|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/DS - PT Ngày: 09/8/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tân
Các thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Tố Như
2. Bà Lê Thị Phương Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Ông Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2024/TLPT- DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất do lấn chiếm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/DS -ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2024/QĐ - PT ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1962 “Có mặt”
- Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1958 “Có mặt”
- Người đại diện theo ủy quyền cho ông T1 là bà Nguyễn Thị T2 (vợ)
- Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Đều vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T3 - Chủ tịch UBND xã Cầu Lộc
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn N - Phó Chủ tịch UBND xã C.
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989 (Con của bà T và ông H)
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991 (Con của bà T và ông H)
- Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1995(Con của bà T và ông H)
- Cùng Địa chỉ:Thôn T, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
2
Người làm chứng: Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1972 (công chức địa chính xã)
Địa chỉ nơi công tác: UBND xã C, huyện H, Thanh Hóa. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Lê Thị T trình bày: Gia đình bà hiện đang sinh sống gần 40 năm tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 08, diện tích được cấp quyền sử dụng đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 127301, do UBND huyện H cấp ngày 31/07/2007, mang tên Hộ ông Nguyễn Văn H3 (đã chết).
Vào ngày 10/12/2022 gia đình ông Nguyễn Văn T1 (là hàng xóm bên cạnh nhà) thực hiện hành vi xây dựng tường rào lấn chiếm bất hợp pháp sang phần đất ở của gia đình bà T, nhưng gia đình bà T không đồng ý và nhiều lần yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn T1 dừng ngay việc xây dựng tường rào lấn chiếm sang phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đinh, nhưng gia đình ông T1 vẫn cố tình xây dựng lấn chiếm đất. Diện tích bị lấn chiếm khoảng 26m² tại cạnh đất phía tây giáp cạnh đất phía đông nhà ông T1, việc lấn chiếm diện tích và xây tường rào được thể hiện cụ thể trong biên bản kiểm tra hiện trạng đất của UBND xã C ngày 01/03/2023,
Do gia đình ông T1, bà T2 không thống nhất tháo dỡ tường rào và trả lại phần diện tích đã lấn chiếm nên gia đình bà T đã viết đơn báo cáo lên UBND xã C, huyện H để trình báo sự việc trên. UBND xã C đã 2 lần cử cán bộ địa chính xã và các lực lượng chức năng xuống làm việc và xác nhận phần đất của gia đình bà bị lấn chiếm là đúng. Tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp, gia đình bà T2, ông T1 lại phá một đoạn tường rào phía tây nam và xây giật vào làm thay đổi hiện trạng cạnh đất. Nguyên nhân gia đình bà T xây tường rào phía nam dài 25.30 m là do vào năm 2018, gia đình bà T2, ông T1 cho rằng đã xây hết phần đất nên hai gia đình xô sát nhau và bà T2 đã phải xin lỗi bà T. Theo cán bộ địa chính xã đo đạc thì thửa đất của nhà bà T phía trước và phía sau là rộng 26 mét, nhưng thực tế chỉ có hơn 25 mét, thiếu khoảng 60 cm chiều rộng, còn nhà bà T2, ông T1 cạnh đất chều rộng chỉ có 25m, nhưng lại rộng hơn. Nay bà Lê Thị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc giải quyết.
Công nhận phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc về đất của gia đình bà T tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 08, diện tích 1091m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 127301 do UBND huyện H cấp ngày 31/07/2007. Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm và tháo dỡ công trình trên đất lấn chiếm.
Tại bản tự khai ngày 06/11/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Gia đình bà T2, ông T1 có thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08, bản đồ đo vẽ năm 2001, tỉ lệ 1/1000, diện tích đất được cấp quyền sử dụng đất là 1020m², tại thôn T, xã C,
3
đất thuộc diện vùng kinh tế mới theo quy hoạch phát triển tái định cư vào năm 1984. Năm 2022 gia đình bà T2, ông T1 có xây tường rào theo mốc cột cũ của hai gia đình để ngăn gia súc, gia cầm sang quấy phá thì gia đình bà T có xảy ra tranh chấp. Bà T đã viết đơn báo cáo Chính quyền xã về đo đạc và giải quyết nhưng gia đình thấy không thỏa đáng. Bà T2 cho rằng việc gia đình bà có xây tường giữa lô ranh giới là lô thẳng đấu với tường cũ của nhà bà T đã xây, trong đó các nhà khác được giao đất mặt đường (phía nam) là 25 mét bằng nhau, ngang chiều dài cũng 40 mét, đất chia theo cụm, mỗi cụm đất có hai gia đình phía trước và phía sau là các gia đình khác. Nhà nước giao nhà ai cũng bằng nhau, nhưng không hiểu lý do gì mà khi Nhà nước cấp giấy CNQSD đất cho nhà bà T lại rộng hơn nhà bà T2 01 mét chiều mặt đường (26 m), các gia đình khác có cụm đất ở mặt đường cũng chỉ 25m. Nay bà T làm đơn khởi kiện buộc gia đình trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 26 m² là không thỏa đáng, nên bà T2, ông T1 không đồng ý phá bỏ tường rào và trả lại đất cho nhà bà T.
Về việc phá tường rào góc đất tây nam; theo bà T2, lâu nay đường L, gia đình bà có đất đầu xóm nên gia đình bà tự phá để xây lại cho rộng lối xóm, không có ai vận động để bắt gia đình bà phá. Quá trình thẩm định bà T2 công nhận mốc giới tường cũ đã phá và đã xây tường rào giật vào phía thửa đất ở thời điểm tháng 11 năm 2023, còn tường rào giáp nhà bà T thì gia đình vẫn khẳng định là xây đúng mốc giới. Còn phần đất đo đạc xác định lấn ra phía nam đường giao thông mặc dù gia đình đã xây tường rào lấn ra đường nhưng khi nào Nhà nước lấy thì bà sẽ trả lại.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là con bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) có văn bản từ chối tham gia tố tụng.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND xã C trình bày: Tại công văn số 19/BC-UBND xã C, về việc cung cấp thông tin thửa đất ở gia đình ông Nguyễn Văn T1 và gia đình và Lê Thị T, thôn T, xã C. Theo hồ sơ địa chính UBND xã đang quản lý, thì nguồn gốc đất của hai gia đình được nhà nước giao vào năm 1986 thuộc đất vùng kinh tế mới. Về diện tích tăng so với bản đồ đo vẽ năm 2001 và diện tích ghi trong GCNQSD đất chủ yếu tăng là do lấn chiếm ra đường về phía nam, (đường giao thông), việc xác định cạnh đất phía nam và phía bắc bị thiếu của gia đình bà T là so sánh vào bản đồ đo vẽ năm 2001 và sổ đỏ của hai gia đình với số đo thực tế sử dụng nên thửa đất nhà bà T bị thiếu diện tích. UBND xã đã nhiều lần tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai nhưng không thống nhất, sau khi bà T khởi kiện thì gia đình bà T2 phá dỡ tường rào phía tây nam để xây giật vào thay đổi hiện trạng sử dụng đất, mục đích là để khi đo đạc đúng với số đo trong bản đồ địa chính 2001. Về việc hai gia đình trong quá sử dụng đất đã xây dựng tường rào lấn ra đường giao thông phía nam, do chưa có kinh phí và kế hoạch làm đường làm đường giao thông khu dân cư nên UBND xã chưa lập phương án giải phóng mặt bằng và thu hồi diện tích đất lấn chiếm của các gia đình. Quan điểm của UBND xã là diện tích đất lấn chiếm không nằm trong phạm vi sử dụng được giao
4
cho hộ gia đình theo quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Điều 100 và Điều 203 của Luật Đất đai 2013;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị T, công nhận phần diện tích 27m² tranh chấp thuộc diện tích tại thửa đất số 50, tờ bản dồ số 08, bản đồ địa chính lập năm 2001, mang tên ông Nguyễn Hữu H4 (đã chết) nay bà bà Lê Thị T đang quản lý, sử dụng diện tích 1091m², theo giấy chứng nhận QSD đất đã được UBND huyện H cấp giấy CNQSD đất, số AI 127301, ngày 31/07/2007. Buộc bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Văn T1 phải có trách nhiệm trả lại diện tích 27m² đất đã lấn chiếm và tháo dỡ toàn bộ tường rào và cột tường rào phía đông thửa đất để trả lại diện tích đất trên cho gia đình bà Lê Thị T. Cụ thể: Tại vị trí góc đất phía tây bắc nhà bà T thửa đất số 50 tính từ góc tường nhà vệ sinh kéo về phía thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08, là 62 cm. Từ vị trí góc đất phía tây nam thửa đất số 50 tính từ đầu tường rào giáp đường giao thông kéo về phía thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08, là 71cm. Chiều dài cạnh đất ranh giới kéo từ phía nam đến phía bắc giữa hai thửa đất là một đường thẳng là 41.38m, (hiện trạng 42.89m dư 1.51m);
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án phí quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02 tháng 5 năm 2024, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử: Hủy toàn bộ bản án số 20/2024/DSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc để xét xử lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2024/DSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa;
Về án phí: Do kháng cáo của Bị đơn không được chấp nhận, nhưng Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí Dân sự phúc thẩm.
5
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị T khởi kiện về việc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 lấn chiếm đất, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp đó là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất do lấn chiếm” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối tượng tranh chấp và bị đơn có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo trong hạn, các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau nội dung tranh chấp, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và giữ bị đơn nguyên nội dung đơn kháng cáo, nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo bản án, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Tòa án tiến hành xét xử, do đó HĐXX tiến hành xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung.
[2] Xét nội dung kháng cáo của Bị đơn:
Nội dung kháng cáo của bị đơn: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết Hủy toàn bộ bản án số 20/2024/DSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa để xét xử lại theo thủ tục chung.
HĐXX xét thấy:
Thứ nhất: Xem xét về nguồn gốc quyền sử dụng đất:
- Tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 08, diện tích 1091m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 127301 do UBND huyện H cấp ngày 31/07/2007. Thửa đất mang tên Hộ ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) nay là bà Lê Thị T quản lý, sử dụng, có tứ cận: Cạnh đất phía đông tiếp giáp đường giao thông xóm, dài 43.95m (dư 1.77m); Phía tây tiếp giáp thửa đất số 49 nhà bà T2, ông T1, hiện trạng cạnh đất dài 42.89m (dư 1.57m); Phía bắc (sau) tiếp giáp hộ bà Lê Thị T4, hiện trạng cạnh đất dài 25.78 (bản đồ đo vẽ 2001 là 26.39 thiếu 62cm); Phía nam giáp đường giao thông, cạnh đất dài 25.15m (bản đồ đo vẽ 2001 là 25.86 thiếu 71cm).
Theo hiện trạng thực tế đo đạc và đối chiếu với thông tin các cạnh đất theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 2001 xác định: Thửa đất số 50 nhà bà Lê Thị T có diện tích được cấp quyền sử dụng đất là 1091m²
- Gia đình bà T2, ông T1 có thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08, bản đồ đo vẽ năm 2001, tỉ lệ 1/1000, diện tích đất được cấp quyền sử dụng đất là 1020m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 504846 ngày 13/3/2020, tại thôn T, xã C, đất thuộc diện vùng kinh tế mới theo quy hoạch phát triển tái định cư vào năm 1984.
6
Như vậy: Tại thời điểm sảy ra tranh chấp hộ bà T và hộ gia đình ông T1 đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2007.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 cho rằng mỗi gia đình đều được cấp 25m chiều rộng, tuy nhiên bà T2 không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho việc tất cả các hộ gia đình đều được cấp có thẩm quyền cấp 25m chiều rộng.
Thứ nhất: Xem xét kết quả thẩm định ngày 24/11/2023 xác định:
Thửa đất nhà ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 hiện trạng có các cạnh tiếp giáp: Phía đông tiếp giáp thửa đất số 50 (bà Lê Thị T), cạnh đất dài 42.73m; Phía tây tiếp giáp đường giao thông xóm, cạnh đất dài 41.97m; Phía nam tiếp giáp đường giao thông, cạnh đất dài 25.33m; Phía bắc tiếp giáp hộ ông Mai Văn V, bà Nguyễn Thi Đ, cạnh đất dài 25.57m.
Thửa đất mang tên Hộ ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) nay là bà Lê Thị T quản lý, sử dụng có tứ cận: Cạnh đất phía đông tiếp giáp đường giao thông xóm dài 41.93m; Phía tây tiếp giáp thửa đất số 49 (bà T2, ông T1) dài 42.90m; Phía bắc tiếp giáp hộ bà Lê Thị T4, cạnh đất dài 25.77; Phía nam giáp đường giao thông, cạnh đất dài 25.44m.
Vị trí tranh chấp xác định là cạnh đất tiếp giáp phía đông nhà bà T2, ông T1 và cạnh đất phía tây nhà bà T. Hiện cạnh đất này đã được gia đình bà T2 xây tường rào cao 110m, dài 39m, chia khoảng áp cột bê tông đúc sẵn giữa các đoạn tường xây, tường rào được xây vào khoảng tháng 12 năm 2022, tường rào xây đấu vào tường nhà vệ sinh nhà bà T ở góc đất tây bắc, và đấu vào tường xây phía tây nam, xây bằng gạch không nung chưa trát vữa,
Cạnh đất phía tây nam của gia đình bà T2 giáp đường ngõ xóm trước đây có tường rào xây nhưng vào tháng 11 năm 2023 gia đình bà T2 đã phá dỡ một đoạn và xây giật vào phía đất khoảng 01m ở phần đầu ngõ xóm. Sau khi thông qua biên bản thẩm định bà Lê Thị T không ký biên bản với lý do gia đình không nhận được Quyết định thẩm định tài sản.
Ngày 24/01/2024 Tòa án tiến hành thẩm định lần hai có sự chứng kiến của các bên tranh chấp, các hộ liền kề và chính quyền địa phương. Việc tiến hành đo đạc do Công ty TNHH Đ1 thực hiện.
Kết quả đo đạc về số đo hiện trạng của hai thửa đất 49 -50 so với kết quả đo đạc cạnh bản đồ địa chính lập năm 2001 cụ thể:
1.Thửa đất nhà ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 có các cạnh tiếp giáp: Phía đông tiếp giáp thửa đất số 50 bà Lê Thị T, cạnh đất dài 41.38 (hiện trạng 42.89m dư 1.51m); Phía tây tiếp giáp đường giao thông xóm, cạnh đất dài 40.62m (hiện trạng 42.06m dư 1.44m); Phía nam tiếp giáp đường giao thông dài 24.84m (hiện trạng tính từ chân tường rào cũ đã phá dỡ là 25.80m, dư 96cm; tính từ tường rào mới xây giật vào là 24.80m); Phía bắc tiếp giáp hộ ông Mai Văn V, bà Nguyễn Thi Đ, cạnh đất dài 24.93m (hiện trạng 25.55m dư 62cm). Diện tích đo đạc hiện
7
trạng tính cả diện tích lấn ra đường giao thông phía nam là 36m² và diện tích đang tranh chấp 27m² là 1088.0m². (diện tích cấp quyền 1020m²).
2.Thửa đất mang tên Hộ ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) nay là bà Lê Thị T quản lý có tứ cận: Cạnh đất phía đông tiếp giáp đường giao thông xóm dài 42.19m (hiện trạng 43.95m dư cạnh 1.77m); Phía tây tiếp giáp thửa đất số 49 bà T2, ông T1 dài 41.38m (hiện trạng 42.89m dư 1.51m); Phía bắc tiếp giáp hộ bà Lê Thị T4, cạnh đất dài 26.39m (hiện trạng 25.78 thiếu 61cm); Phía nam giáp đường giao thông, cạnh đất dài 25.86m (hiện trạng 25.30m, nhưng lấn ra đường giao thông xóm phía đông 15cm = 02m², nên thiếu 71cm), diện tích hiện trạng tính cả diện tích đất lấn chiếm đường giao thông 42m² là 1108.0m² (diện tích cấp quyền sử dụng 1091m²).
Đường giao thông phía nam hai thửa đất rộng 4.50m. Cạnh đất này của hai gia đình xác định xây tường rào lấn ra đường. Cụ thể: Góc đất phía tây nam đầu ngõ xóm gia đình bà T2 phá tường cũ xây tường mới giật vào 01m và xây tường rào lấn ra đường giao thông phía nam 1.33m và góc đất phía đông nam giáp nhà bà T lấn ra đường giao thông 1.57m x 24.80m = 36m². Thửa đất nhà bà T, tại góc đất phía đông nam đầu ngõ xóm lấn ra đường giao thông 1.77m và lấn ra đường giao thông xóm 15cm, góc đất phía tây nam giáp cạnh đất tranh chấp nhà ông T1 lấn ra đường giao thông 1.57m x dài 25.30m = 42m².
- Theo báo cáo của UBND xã C, huyện H, thể hiện: Qua kiểm tra thửa đất nhà bà T là thửa số 50, tờ bản dồ số 08 diện tích 1091m², đo thực tế cạnh phía Nam là 25,30m so với bản đồ thiếu 0,45m; Đo cạnh Bắc là 25,60m, so với bản đồ thiếu 0,79m;
Qua kiểm tra thửa đất nhà ông T1 là thửa số 49, tờ bản dồ số 08 diện tích 1020m², đo thực tế cạnh phía Nam là 25,30m so với bản đồ thừa 0,76m; Đo cạnh Bắc là 25,80m, so với bản đồ thừa 0,87m;
- Căn cứ kết quả đo đạc và các tài liệu, chứng cứ khác xác định; nền bản đồ có đường kẻ biểu thị màu xanh là vị trí mốc giới thông tin địa chính xác lập theo bản đồ đo vẽ 2001, tỉ lệ 1/1000; và đường kẻ đo vẽ màu đỏ là biểu thị thông tin đo đạc hiện trạng đất đang sử dụng. Như vậy, nếu tính theo đường kẻ biểu thị màu xanh nền bản đồ của hai thửa đất thì cạnh đất phía đông nam của gia đình bà T2, ông T1 đã xây tường rào có đường kẻ biểu thị mầu đỏ không trùng với đưởng kẻ biểu thị màu xanh. Vì đường kẻ biểu thị màu xanh thuộc thửa đất số 50 nằm sang phần đất gia đình nhà bà T2 đã xây tường rào lấn chiếm sang phần đất nhà bà T và trên thực tế đo đạc diện tích đất của bà T bị thiếu.
Cụ thể: Tại góc đất phía đông bắc lấn chiếm sang là 0.62m; phía góc đất đông nam lấn chiếm sang là 0.71m x dài 42.89m = 27m², hiện trạng diện tích thửa đất nhà bà T2, ông T1 1088m² tăng 68m², trong đó có 36m² được xác định lấn ra đường giao thông phía nam và 27m² lấn sang thửa đất nhà bà Lê Thị T, hiện trạng sử dụng đất 1025m² (dư 05 m so với diện tích được cấp quyền).
8
Thứ ba: Tại Điều 175 của Bộ luật Dân sự quy định về Ranh giới giữa các bất động sản:
- Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.
- Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đối chiếu các quy định trên, gia đình bà T và gia đình ông T1 đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua kiểm tra hiện trạng quyền sử dụng đất của các cơ quan chuyên môn đối với diện tích quyền sử dụng đất giữa hai gia đình đều xác định:
Số đo hiện trạng thửa đất nhà bà T2, ông T1, tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08 không trùng với số đo, diện tích khi Nhà nước cấp quyền sử dụng đất (1020m - 1088m² tăng 68m²). Nguyên nhân tăng là do quá trình sử dụng đất, gia đình bà T2, ông T1 đã lấn ra đường giao thông 36m² và lấn sang phần diện tích thửa đất nhà bà T 27 m².
Thứ tư: Bị đơn kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm chưa đưa hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Hữu H4 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghãi vụ liên quan: Xét thấy: Bà Lê Thị T là vợ ông Nguyễn Hữu H4, ông H4 đã chết thì bà T có quyền khởi kiện vụ án khi xét thấy quyền và lợi ích của gia đình bị xâm phạm, mặt khác anh Nguyễn Văn D; Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn P(là con của ông H4 và bà T) đã ủy quyền cho bà T tham gia tố tụng. Do đó nội dung kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.
Thứ năm: Bị đơn kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm chưa triệu tập Hội đồng đăng ký đất xã C năm 2007; Không triệu tập ông chủ tịch Nguyễn Minh H5 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Không triệu tập hội đồng giám định viên để xác định tọa độ cắm mốc giới.
Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ để chứng minh về nguồn gốc, quyền sử dụng đất giữa hai gia đình, đã tiến hành xem xét thẩm định xác định hiện trạng sử dụng đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã triệu tập đúng, đủ các thành phần tham gia tố tụng, do đó kháng cáo của bị đơn đối với nội dung này không có cơ sở xem xét. Kháng cáo của Bị đơn không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Mặc dù kháng cáo không được chấp nhận, nhưng Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
9
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- 1. Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn
- Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- * Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị T, công nhận phần diện tích 27m² tranh chấp thuộc diện tích tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 08, bản đồ địa chính lập năm 2001, mang tên ông Nguyễn Hữu H4 (đã chết) nay bà bà Lê Thị T đang quản lý, sử dụng diện tích 1091m², theo giấy chứng nhận QSD đất đã được UBND huyện H cấp giấy CNQSD đất, số AI 127301, ngày 31/07/2007.
- Buộc bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Văn T1 phải có trách nhiệm trả lại diện tích 27m² đất đã lấn chiếm và tháo dỡ toàn bộ tường rào và cột tường rào phía Đông thửa đất để trả lại diện tích đất trên cho gia đình bà Lê Thị T.
- Cụ thể: Tại vị trí góc đất phía Tây bắc nhà bà T thửa đất số 50 tính từ góc tường nhà vệ sinh kéo về phía thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08, là 62 cm.
- Từ vị trí góc đất phía Tây nam thửa đất số 50 tính từ đầu tường rào giáp đường giao thông kéo về phía thửa đất số 49, tờ bản đồ số 08, là 71cm. Chiều dài cạnh đất ranh giới kéo từ phía Nam – đến phía Bắc giữa hai thửa đất là một đường thẳng là 41.38m, (hiện trạng 42.89m dư 1.51m);
- 2. Về án phí Dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2.
- 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tân |
10
Bản án số 97/2024/DS - PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 97/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
