|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HSST
Ngày: 08/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Lưu;
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi lịch phiên toà ngày 01/7/2024 đối với bị cáo:
Phan Tiến A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2005 tại Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phan Minh T và bà Lưu Thị H; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Bị hại: Anh Lê Ngọc C, sinh năm 1996; HKTT: thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Nơi ở hiện nay: thôn L, xã K, huyện H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03h20' ngày 22/01/2024, Phan Tiến A đi bộ một mình từ phòng trọ ở xã T, huyện Đ, Hà Nội đến quán G: “Cyber Home” ở thôn L, xã K, huyện H, Hà Nội để chơi điện tử. Đến nơi, Tiến A đi vào tầng 1 của quán thì thấy anh Lê Ngọc C là chủ quán đang nằm ngủ và chiếc điện thoại Iphone 11 Promax đang sạc ở ghế sát cạnh anh C nên Tiến A đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Lợi dụng xung quanh không có ai nên Tiến A liền rút dây sạc
và lấy chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, cho vào túi quần trước bên phải rồi đi ra ngoài. Tiến A đi bộ về giấu chiếc điện thoại vừa lấy trộm được để ở dưới thùng rác gần phòng trọ và tháo sim bên trong điện thoại vứt bỏ gần đấy. Sau đó, Tiến A đi về phòng trọ ngủ.
Đến khoảng 16h00' cùng ngày, Tiến A nhận thức hành vi trộm cắp của mình là vi phạm pháp luật nên đến Công an xã K - Công an huyện H để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xám đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353888109926056, số IMEI 2: 353888109928839, dung lượng 256G, bên trong máy không có sim (do Phan Tiến A giao nộp).
- 01 usb bên trong lưu giữ 01 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc Phan Tiến A lấy trộm tài sản (do anh Lê Ngọc C giao nộp).
Đối với 01 sim bên trong điện thoại Iphone 11 Promax: Phan Tiến A khai vứt bỏ tại khu vực xã T, huyện Đ, Hà Nội. Cơ quan Công an đã cho Tiến A chỉ dẫn để truy tìm nhưng không thấy.
Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Yêu cầu định giá tài sản, trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H xác định giá trị của 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax trên và giá trị của 01 sim điện thoại đã qua sử dụng của nhà mạng V (số thuê bao 0334017699).
Tại Kết luận định giá tài sản số: 61/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, bản quốc tế, đã qua sử dụng từ tháng 10/2023, số IMEI 1: 353888109926056, số IMEI 2: 353888109928839, dung lượng 256G, bên trong máy không có sim, tại thời điểm tháng 01/2024 có giá: 9.267.000 đồng.
- Hội đồng định giá từ chối định giá tài sản đối với 01 sim điện thoại đã qua sử dụng của nhà mạng V1 (số thuê bao 0334017699) do làm lại được tại nhà mạng Viettel quy định.
Ngày 21/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax cho chủ sở hữu là anh Lê Ngọc C.
Về dân sự: Gia đình Phan Tiến A đã bồi thường, khắc phục thiệt hại cho anh Lê Ngọc C. Anh C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Tiến A và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKSHĐ ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Phan Tiến A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Tiến A giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Lời nói sau cùng, bị cáo Phan Tiến A thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phan Tiến A và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Tiến A với mức án từ 06 đến 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Về dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh của bị cáo:
Khoảng 03h20' ngày 22/01/2024 tại quán G: “Cyber Home” ở thôn L, xã K, huyện H, Hà Nội, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Phan Tiến A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax trị giá 9.267.000 đồng (Chín triệu, hai trăm, sáu mươi bảy nghìn đồng) của anh Lê Ngọc C.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản của người sơ hở để có tiền tiêu sài cá nhân. Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo
Phan Tiến A đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác để lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là rất cần thiết, cần xử lý trước pháp luật để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả”, “đầu thú”, “bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt”, đây những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như phân tích trên, bị cáo là người có nơi cư trú rõ ràng, do vậy, việc áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, mà cho bị cáo được cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt vừa giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, tự nguyện không yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử không xét.
[8] Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 P, cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Ngọc C là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Tiến A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Phan Tiến A 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Tiến A cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phan Tiến A phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Phan Tiến A có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại là anh Lê Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Lan Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 97/2024/HSST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 97/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Tiến Anh, trộm cắp tài sản
