Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TC

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HSST

Ngày 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Xuân Tư và bà Lý Thị Vinh.

  • - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La và tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm 1998 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Mòn, xã TM, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn Thiết, sinh năm 1973 và bà Lò Thị Hoan, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 25/2020/HS-ST ngày 22-4-2020 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 22 tháng 01 năm 2024. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Lò Văn Bưởi, ông Lò Văn Đạt- Cán bộ chiến sỹ Đội hỗ trợ tư pháp Công an huyện TC. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, Tổ công tác Công an xã Chiềng Ly, huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Đông, xã Chiềng Ly, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn L có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn (Theo Quàng Văn L khai là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn).

Hồi 20 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn trong gói nilon màu hồng có khối lượng 0,14 gam. Trích toàn bộ 0,14 gam, ký hiệu L1 gửi giám định.

Kết luận giám định số: 409/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 22/01/2024, Quàng Văn L đi bộ một mình từ nhà ở bản Mòn, xã TM, huyện TC, tỉnh Sơn La lên xã Chiềng Pha, huyện TC, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi L đến khu vực bản Ta Khoang, xã Chiềng Pha, huyện TC, L gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên dân tộc thái (L không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu hồng bên trong có Heroine và hồng phiến trộn lẫn với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu gói ma túy vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc, rồi đi bộ về xã Chiềng Ly, huyện TC để tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi L đi đến khu vực bản Đông, xã Chiềng Ly, huyện TC thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.

Tại Cáo trạng số: 51/CT- VKSTC ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Quàng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn L từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì đã bóc mở niêm phong vật chứng ban đầu.

Bị cáo Quàng Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn L thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Ngày 22/01/2024, bị cáo Quàng Văn L đã có hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và Methamphetamine) trộn lẫn) trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại bản Đông, xã Chiềng Ly, huyện TC, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 22/01/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 409/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam chất ma túy (loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và Methamphetamine) trộn lẫn) trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Quàng Văn L đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án đã được xóa án tích.

[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Quàng Văn L khai mua của của một nam thanh niên dân tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Ta Khoang, xã Chiềng Pha, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 22/01/2024. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Quàng Văn L phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

[6] Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì đã bóc mở niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Quàng Văn L phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn L - TTTPCMT, bắt ngày 22/01/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 077033 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC. Bên trong có: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Quàng Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;

  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;

  • - VKSND huyện Thuận Châu (02 bản);

  • - CA huyện TC;

  • - Chi cục THADS huyện TC;

  • - Người tham gia tố tụng;

  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Mai Xiêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 97/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger