TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 97/2024/HSST Ngày: 05/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan
Ông Phạm Quốc Trung
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, tên gọi khác: không, sinh ngày 10/6/1980 tại tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Bùi Thị D (đã chết); Bị cáo đã ly hôn; Có 01 con sinh năm 2005; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Tháng 5/ 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 32/ 2015 ngày 13/5/ 2015 đã thi hành xong).
- - Tháng 5/ 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy; tổng hợp 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 49 tháng tù theo Bản án số 16/ 2016 ngày 17/ 5/ 2016, chấp hành xong hình phạt ngày 20/ 4/ 2019, đã thi hành xong.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 19/4/2024 đến nay. Hiện đang đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
1
Người chứng kiến: ông Lương Toàn T2, sinh năm 1969 (vắng mặt không có lý do)
Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do là người nghiện ma túy nên, khoảng 09 giờ ngày 19/4/2024 với ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên T đi bộ từ nhà đến khu vực cầu H, thuộc phường P, thành phố H. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết, qua trao đổi Thật mua được của người đàn ông trên 02 gói ma túy với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma túy, T cầm trong lòng bàn tay phải đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực đầu cầu H thuộc tổ A, phường Đ, thành phố H thì bị tổ công tác Công an thành phố H làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: "Chất bột dạng cục màu trắng, hồng kí hiệu M1,M2 trong phong bì niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 0,41g (không phẩy bốn mốt gam) là ma túy, loại Heroin
Về vật chứng của vụ án:
Ngày 19/4/2024, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H đã tiến hành thu giữ của Nguyễn Văn T: Ma túy khối lượng 0,41g (không phẩy bốn mốt gam), là ma túy, loại Heroine;
Cáo trạng số 91/CT-VKSTP ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn T mức án từ 17 (mười bảy) tháng tù đến 19 (mười chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định;
- - Buộc bị cáo phảo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo thấy tội danh, mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đúng nên không có ý kiến tranh luận.
2
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi là đã vi phạm pháp luật, rất ân hận. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu, ngày 19/4/2024, T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,41 gam ma túy loại Heroin tại đầu cầu B, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và là nguyên nhân gây ra tội phạm khác. Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
3
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về vật chứng vụ án:
Đối với toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1980, có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 19/4/2024 tại phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán phong bì có dấu tròn đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, là chất cấm bị cáo tàng trữ trái phép, đồng thời Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông mà bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T, do bị cáo khai không biết tên tuổi, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người đàn ông, quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để kết luận nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Di vậy, Hội đồng xét xử chưa đề cập xem xét giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang, ngày 19/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1980, có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 19/4/2024 tại phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán phong bì có dấu tròn đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 114/BB/24 ngày 22/7/2024.
4
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đà Giang |
5
Bản án số 97/2024/HSST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 97/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 17 tháng tù
