|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST
Ngày 02-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Duyên
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 206/TB-TA ngày 03/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1979 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A lô A mở rộng, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Vũ Thị Bích N và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 961/2001/PT ngày 26 tháng 7 năm 2001, Tòa án nhân dân Tối cao xử 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản (đã được xoá án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 16/12/2023; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn K2; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị M; vắng mặt.
- Bà Đặng Thị N1; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Ngọc T1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty cổ phần T4 (sau đây viết tắt là Công ty T4), được thành lập năm 2007; địa chỉ trụ sở tại số A lô A, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có 03 thành viên góp vốn là Nguyễn Văn K, ông Nguyễn Văn K2 (sinh 1983; địa chỉ: Số D Xi Măng L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng), bà Nguyễn Thị T (sinh 1950; địa chỉ: Số D Xi Măng L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng). Công ty do Nguyễn Văn K là người đại diện pháp luật và làm Giám đốc; có MST: 0200739704 và khai báo thuế tại Chi cục thuế K3.
Bộ phận kế toán của Công ty T4 có 02 nhân viên là Phạm Thị M (sinh 1984; địa chỉ: Số E Đ, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng), Đặng Thị N1 (sinh 1984; địa chỉ: Số C ngõ A T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng) trong đó M phụ trách kế toán thuế, N1 là nhân viên kế toán tổng hợp phụ trách việc nội bộ theo dõi ngày công, sửa chữa, phân bổ dầu. Đầu năm 2022, M xin nghỉ làm, K liên hệ qua hội nhóm trên mạng xã hội thuê một kế toán dịch vụ tên Đinh Thị H (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể) làm báo cáo thuế cho Công ty T4, mỗi tháng K trả công cho H 2.000.000 đồng. H không làm việc tại trụ sở Công ty T4 mà chỉ đến Công ty để lấy chứng từ về kê khai báo cáo. Đến giữa năm 2023, H nghỉ việc.
Công ty T4 đăng ký ngành nghề kinh doanh là: Vận tải đường bộ, dịch vụ Logictics.... Công ty sở hữu một số phương tiện vận tải, cơ giới đường bộ, ngoài ra trong quá trình kinh doanh, Công ty còn thuê nhiều phương tiện vận chuyển của các công ty khác.
Từ đầu năm 2022, một số cá nhân sử dụng dịch vụ vận chuyển, vận tải của Công ty T4 không lấy hóa đơn giá trị gia tăng nên Công ty T4 có thừa hóa đơn đầu ra. Trong lúc này có một số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ ngoài không có hóa đơn giá trị gia tăng để kê khai đầu vào nên đã liên hệ với Nguyễn Văn K để mua hóa đơn. Nguyễn Văn K không thông qua Hội đồng cổ đông đã tự ý trực tiếp thực hiện giao dịch bán 16 số hoá đơn giá trị gia tăng khống (không có hàng hóa, dịch vụ thực tế kèm theo) cho 05 Doanh nghiệp gồm: Công ty TNHH V: 0201629366, Công ty TNHH P - MST: 0201866303, Công ty TNHH T5 - MST: 0201566211, Công ty cổ phần X - MST: 0106457244, Công ty cổ phần Đ - MST: 0106042183. Tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ chưa thuế của 16 số hoá đơn giá trị gia tăng khống K đã bán là 559.270.000 đồng, giá bán 7% giá trị hàng hóa, dịch vụ chưa tính thuế, K thu lợi bất chính cho bản thân 39.148.900 đồng. Cụ thể như sau:
Từ ngày 28/4/2022 đến ngày 30/11/2022, K bán cho Công ty TNHH V số hoá đơn giá trị gia tăng (gồm số 046 ngày 28/4/2022, số 176 ngày 28/10/2022, số 209 ngày 30/11/2022). Số hóa đơn này do Nguyễn Thị C (sinh 1983; ĐKHKTT: P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng ) là Giám đốc Công ty TNHH V trực tiếp liên hệ và mua của Nguyễn Văn K để hợp thức hóa các chi phí thuê xe phát sinh do liên hệ thuê xe dịch vụ ngoài. Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế 176.620.000 đồng, giá mua hóa đơn 7% trên tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 12.363.400 đồng. Các hóa đơn mua khống Công ty TNHH V đã sử dụng để kê khai thuế hàng hóa, dịch vụ đầu vào tại Chi cục thuế khu vực L - D.
Từ ngày 29/4/2022 đến ngày 27/5/2022, K bán cho Công ty TNHH T5 03 số hoá đơn giá trị gia tăng (gồm số 047 ngày 29/4/2022, số 069 ngày 25/5/2022, số 071 ngày 27/5/2022). Số hóa đơn này do Nguyễn Ngọc T1 (sinh 1990; địa chỉ: Số G N, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng), là nhân viên Công ty TNHH T5 trực tiếp liên hệ và mua của K để hợp thức hóa chi phí đầu vào khi thuê một số xe tư nhân vận chuyển nhưng không xuất được hóa đơn giá trị gia tăng. Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế: 47.800.000 đồng, giá mua hóa đơn 7% trên tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 3.346.000 đồng. Các số hóa đơn mua khống, Công ty TNHH T5 đã sử dụng để kê khai thuế hàng hóa, dịch vụ mua vào tại Chi cục thuế khu vực L - D. Sau đó, Công ty TNHH T5 đã làm thủ tục kê khai lại, loại bỏ các số hóa đơn mua khống do Công ty T4 phát hành và nộp thuế bổ sung vào ngày 04/01/2024.
Từ ngày 28/9/2022 đến ngày 31/3/2023, K bán cho Công ty TNHH P 07 số hoá đơn giá trị gia tăng (gồm số 165 ngày 28/9/2022, số 183 ngày 31/10/2022, số 201 ngày 28/11/2022, số 246 ngày 29/12/2022, số 009 ngày 31/01/2023, số 028 ngày 28/02/2023, số 051 ngày 31/3/2023). Số hóa đơn này do Lê Thị Kim C1 (sinh 1994; ĐKHKTT: Số D đường B xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng), là nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty TNHH P trực tiếp liên hệ và mua của K để kê khai chi phí hải quan đầu vào. Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế 81.200.000 đồng, giá mua hóa đơn 7% trên tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 5.684.000 đồng. Công ty TNHH P chưa sử dụng để kê khai thuế đối với 07 số hoá đơn trên do thuộc trường hợp doanh nghiệp được miễn thuế.
Từ ngày 28/10/2022 đến ngày 29/11/2022, K bán cho Công ty cổ phần X 01 số hoá đơn giá trị gia tăng (số 178 ngày 28/10/2022), Công ty cổ phần Đ 02 hóa đơn giá trị gia tăng (số 177 ngày 28/10/2022, 202 ngày 29/11/2022). Theo sự chỉ đạo của Nguyễn Tuấn D (sinh 1985, ĐKHKTT: Tt X, phường K, quận T, thành phố Hà Nội) là Giám đốc Công ty cổ phần X và Lê Văn B (sinh 1980; trú tại: Thôn N, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội) là Giám đốc Công ty cổ phần Đ, Nguyễn Thị T2 (sinh 1983; địa chỉ: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hải Nội) là nhân viên kế toán của hai Công ty trên đã trực tiếp liên hệ và mua của K 03 số hóa đơn này cho hai Công ty để hợp thức hóa việc thuê xe vận tải ngoài, không xuất được hóa đơn. Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế của hoá đơn số 178 là 93.000.000 đồng, giá mua hóa đơn 7% trên tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 6.510.000 đồng. Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế của hai hóa đơn số 177, 202 là 160.650.000 đồng, giá mua hóa đơn 7% trên tổng giá trị hàng hoá dịch vụ chưa thuế là 11.245.500 đồng. Các số hóa đơn mua khống, T2 đã sử dụng để kê khai hàng hóa, dịch vụ đầu vào cho Công ty cổ phần X tại Chi cục thuế huyện T, Hà Nội và kê khai hàng hóa, dịch vụ đầu vào cho Công ty cổ phần Đ tại Chi cục thuế thị xã S.
Để thực hiện việc bán hóa đơn, Nguyễn Văn K trực tiếp liên hệ với người mua trao đổi các thông tin, thống nhất giá mua bán và sử dụng máy tính cá nhân để tạo lập hóa đơn đơn khống tại trụ sở Công ty T4, sau đó ký điện tử cho khách hàng. Để hợp thức hóa việc bán khống hóa đơn giá trị gia tăng như có giao dịch hàng hóa, dịch vụ thực tế kèm theo, K và người mua hóa đơn thống nhất vẫn ký kết các hợp đồng kinh tế. K dùng dấu tròn của Công ty T4, dấu chức danh Giám đốc do mình quản lý, sau đó ký, đóng dấu để hợp thức hóa các chứng từ. Các chứng từ sau khi hoàn thiện được chuyển cho khách mua bằng hình thức chuyển phát nhanh và giao nhận trực tiếp tại văn phòng Công ty T4.
Đối với việc thanh toán, Nguyễn Văn K và người mua hóa đơn thỏa thuận thanh toán tiền mặt với những số hóa đơn dưới 20.000.000 đồng, thanh toán qua chuyển khoản với những số hóa đơn trên 20.000.000 đồng. Khách mua hoá đơn chuyển tiền vào tài khoản Công ty T4 (số tài khoản 45053759 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á và số tài khoản 447102218 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần V1). Sau khi nhận tiền, K lấy tiền bán hóa đơn tương ứng với 7% trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ chưa tính thuế, số tiền còn lại Khánh ứng trước tiền mặt cá nhân trả lại cho khách hàng trực tiếp tại Văn phòng Công ty T4 hoặc trả lại qua hình thức chuyển phát nhanh kèm chứng từ. Sau đó K mới rút tiền từ tài khoản ra. K là người trực tiếp rút tiền, khi bận công việc, một vài lần K đề nghị Phạm Thị M rút tiền mặt về đưa cho K, Phạm Thị M thực hiện theo chỉ đạo, không biết việc bán hoá đơn của K.
Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Văn K đã thực hiện tự thao tác lại để in, trích xuất 16 số hóa đơn đã bán khống từ máy tính xách tay có cắm USB Token của Công ty T4.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, đồng thời K khai đã chỉ đạo H làm báo cáo thuế 16 hoá đơn khống trên và kê khai báo cáo hàng hóa dịch vụ bán tại Chi cục thuế K3, H không biết việc xuất 16 hóa đơn giá trị gia tăng không kèm theo hàng hóa, dịch vụ. Số tiền thu lợi từ việc bán hóa đơn, K đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 28/3/2024, Nguyễn Văn K tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000 đồng thu lợi từ việc bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng.
Vật chứng của vụ án: Chuyển 01 dấu tròn của Công ty T4, 01 dấu chức danh Giám đốc Nguyễn Văn K, 01 USB token của Công ty T4, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu đen, 01 chuột dây, bàn phím là công cụ, phương tiện Nguyễn Văn K dùng để tạo lập hóa đơn điện tử bán cho khách hàng; số tiền 40.000.000 đồng do K tự nguyện giao nộp đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKS-HA ngày 13/5/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, áp dụng bị cáo được phạt tiền là hình phạt chính.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn K từ 90.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Văn K là 39.148.900 đồng, K đã nộp số tiền 40.000.000 đồng, nên trả lại cho K số tiền 851.100 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 dấu tròn của Công ty T4; 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn K; 01 USB token của Công ty T4;
+ Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu đen, 01 chuột dây, bàn phím thu giữ của Nguyễn Văn K.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Điều tra viên Công an quận H, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận hành vi mua bán trái phép hóa đơn của mình như nội dung đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các tài liệu xác minh tại Cơ quan Thuế, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở xác định:
[3] Từ ngày 28/4/2022 đến ngày 31/3/2023, Nguyễn Văn K có hành vi bán trái phép 16 số hoá đơn giá trị gia tăng do Công ty cổ phần T4 phát hành, ghi khống tổng giá trị tiền hàng hóa dịch vụ chưa tính thuế là 559.270.000 đồng, với giá bán 7% giá trị tiền hàng hóa, dịch vụ chưa tính thuế cho 05 Công ty gồm: Công ty TNHH V, Công ty TNHH P, Công ty TNHH T5, Công ty cổ phần X, Công ty cổ phần Đ, thu lợi bất chính số tiền 39.148.900 đồng.
[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây mất trật tự trị an. Chính vì vậy phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về nhân thân:
[6] Bị cáo Nguyễn Văn K nhân thân có 01 tiền án: Bản án số 961/2001/HSPT ngày 26/7/2001, Tòa án nhân dân Tối cao xử 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Đã được xóa án tích theo Giấy chứng nhận xóa án tích số 01/2014/GCNXA ngày 10 tháng 01 năm 2014 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
+ Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Bị cáo Nguyễn Văn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Khánh thành k khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[9] Xét tội phạm bị cáo K thực hiện thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, bị cáo có điều kiện, khả năng thực hiện hình phạt tiền nên cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, đảm bảo thu hồi tài sản cho Nhà nước.
- Về tiền thu lợi bất chính:
[10] Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Văn K là 39.148.900 đồng, K đã nộp số tiền 40.000.000 đồng, nên trả lại cho K số tiền 851.100 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
[11] Đối với 01 dấu tròn của Công ty T4, 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn K, 01 USB token của Công ty T4, là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[12] Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu đen, 01 chuột dây, bàn phím thu giữ của Nguyễn Văn K, các tài sản nêu trên liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[13] Đối với các cổ đông của Công ty T4: ông Nguyễn Văn K2, bà Nguyễn Thị T, Phạm Thị M, Đặng Thị N1, Đinh Thị H do không biết việc lập, bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng của Nguyễn Văn K nên cơ quan công an không có căn cứ xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[14] Đối với Lê Thị Kim C1, Lê Văn B, Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ngọc T1 có hành vi mua trái phép hóa đơn giá trị gia tăng của Nguyễn Văn K, tài liệu điều tra xác định số lượng hóa đơn mua dưới 10 số, giá trị tiền thuế ghi trên hóa đơn dưới 100.000.000 đồng, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không xử lý hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[15] Đối với 05 Doanh nghiệp đã mua trái phép 16 hóa đơn giá trị gia tăng của Nguyễn Văn K và việc Công ty T4 đã kê khai sử dụng 16 số hóa đơn giá trị gia tăng không có hàng hóa, dịch vụ tại cơ quan thuế, ngày 15 tháng 4 năm 2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã có Công văn số 721/CAHA-CSĐT-ĐTKT gửi Cục thuế thành phố H đề nghị xử lý theo thẩm quyền. Việc xử lý sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật trong ngành thuế, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[16] Đối với các doanh nghiệp đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng làm đầu vào cho Công ty T4 và sử dụng hoá đơn đầu ra do Công ty T4 phát hành, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã có văn bản gửi Cục thuế thành phố H để rà soát và xử lý theo quy định của ngành thuế, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
[17] Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử:
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn K 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.
Trừ cho bị cáo số tiền đã nộp 10.000.000 (Mười triệu) đồng theo Biên lai số 0004932 ngày 01/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo K còn phải nộp tiếp số tiền 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng.
- Về số tiền thu lợi bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Văn K là 39.148.900 (Ba mươi chín triệu, một trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm) đồng. K đã nộp số tiền 40.000.000 ( Bốn mươi triệu) đồng, nên trả lại cho K số tiền 851.100 (T3 trăm năm mươi mốt nghìn một trăm) đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên lai thu tiền số 0004813 ngày 20/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn K.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 dấu tròn của Công ty T4, 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Văn K, 01 USB token của Công ty T4.
+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu đen, 01 chuột dây, bàn phím thu giữ của Nguyễn Văn K.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; trừ cho bị cáo số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0004931 ngày 01/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Nguyễn Văn K đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười năm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (criminal case)
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K - Hoá đơn
