|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/LÐ-ST
Ngày: 16/4/2025
V/v: Tranh chấp bảo về hiểm xã hội.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.
Các hội thẩm nhân dân
- : Bà Nguyễn Hương Thủy
- : Ông Cao Quốc Hưng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án lao động thụ lý số 209/2024/TLST- LĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1555/2025/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2462/2025/QĐST-LĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Tổ 1, Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc H và bà Dương Thị T (theo Giấy ủy quyền ngày 02/4/2024)
Bị đơn: Công ty TNHH I;
Trụ sở: Phòng 5.09, Lầu E, Tòa nhà S, Số A P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Victor Ching B.
Địa chỉ: E H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông Vũ Ngọc H và bà Dương Thị T có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền là ông Vũ Ngọc H và bà Dương Thị T trình bày:
Từ 08/2018, bà C được tuyển dụng vào làm việc cho Công ty TNHH I1 (sau đây gọi là Công ty). Đến tháng 9/2018, hai bên giao kết hợp đồng lao động. Đến ngày 01/09/2020, bà C và Công ty TNHH I1 gia hạn bằng hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 00151/HDLD-INX. Công việc của bà C: công nhân phụ bếp; Mức lương đóng BHXH trước khi nghỉ việc: 6.263.000 đồng/tháng.
Căn cứ vào thỏa thuận chấm dứt hợp đồng với người lao động, ngày 14/3/2023, công ty đã ban hành Quyết định nghỉ việc số 00151/QĐNV với nội dung cho bà C nghỉ việc kể từ ngày 14/3/2023. Quá trình làm việc tại công ty, hàng tháng công ty đều trừ lương của bà C để tham gia các loại bảo hiểm theo quy định gồm: Bảo hiểm xã hội 8% (BHXH), Bảo hiểm Y tế 1,5% (BHYT) và Bảo hiểm thất nghiệp 1% (BHTN). Sau khi bà C nghỉ việc thì công ty có giao cho bà C một phiếu hẹn ngày 09/3/2024 đến Chi nhánh Công ty ở Bình Thuận để nhận tờ rời bảo hiểm xã hội. Đến hạn, bà C liên hệ công ty để được nhận lại tờ rời bảo hiểm xã hội nhưng công ty không giải quyết. Ngày 12/3/2024, bà C đến cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện X để kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm xã hội thì mới biết được Công ty chỉ mới đóng bảo hiểm xã hội cho bà C đến hết tháng 9/2021, thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023, Công ty chỉ đóng bảo hiểm thất nghiệp, chưa đóng bảo hiểm xã hội, chưa xác nhận hết quá trình tham gia bảo hiểm xã hội cho bà C theo quy định của pháp luật.
Nhận thấy, việc Công ty hàng tháng đều trừ tiền lương của bà C để tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội, không xác nhận hết thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho bà C là không đúng quy định của pháp luật, làm cho quyền lợi của bà C bị ảnh hưởng. Do đó, bà Lê Thị C yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà C từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023 (17 tháng) và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm cho bà C theo quy định pháp luật.
Bị đơn Công ty TNHH I1 vắng mặt nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày và các tài liệu, chứng cứ do Công ty G.
Tại phiên tòa:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn - bà Lê Thị C khởi kiện bị đơn Công ty TNHH I về “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”. Bà C và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động số 00151/HDLD-INX ngày 01/9/2020, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định nghỉ việc số 00151/QĐTV ngày 14/3/2023. Bà C đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty TNHH I nên bà C không khởi kiện về việc chấm dứt hợp đồng lao động mà chỉ tranh chấp tiền bảo hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần phải giải quyết là: “Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội”.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị C khởi kiện tranh chấp về BHXH đối với Công ty TNHH I, có nội dung phù hợp pháp luật, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có trụ sở hoạt động tại thành phố T nên căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2]. Về tố tụng và phạm vi giải quyết vụ án:
[2.1] Về tố tụng:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Xét trách nhiệm đóng các khoản bảo hiểm của Công ty TNHH I và người lao động không thuộc trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận hợp đồng, mà thuộc trách nhiệm theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội nên xét không cần thiết phải tiến hành hòa giải và không cần thiết phải đưa Bảo hiểm xã hội huyện X vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, theo điểm d khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 thì tranh chấp về tiền bảo hiểm xã hội không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải cơ sở. Ngày 14/3/2023, công ty ban hành Quyết định nghỉ việc số 00151/QĐTV cho bà C nghỉ việc. Ngày 12/3/2024, Bảo hiểm xã hội huyện X xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho bà C và bà C mới biết được Công ty chưa nộp đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội đối với bà C. Ngày 25/3/2024, bà C nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Theo quy định tại khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động quy định: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của bà C còn trong thời hiệu khởi kiện.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Giữa bà C và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động từ năm 2018 và gia hạn bằng hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 00151/HĐLD-INX ngày 01/09/2020. Do bà C có đơn xin nghỉ việc, nên ngày 14/3/2023, Công ty TNHH I ban hành Quyết định nghỉ việc số 00151/QĐNV đối với bà C. Hợp đồng lao động của năm 2018, bà C cho biết, sau khi ký, Công ty không giao lại cho bà. Căn cứ bảng ghi quá trình đóng BHXH, BHTN ngày 12/3/2024 và Công văn số 59/BHXH ngày 24/3/2025 của Bảo hiểm xã hội huyện X cung cấp, thể hiện: Quá trình đóng Bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH I - chi nhánh Đ: Công ty TNHH I đã đóng Bảo hiểm xã hội đủ và thực hiện xác nhận quá trình cho bà C từ tháng 9/2018 đến tháng 9/2021; Không đóng bảo hiểm xã hội cho C từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023. Do đó, có cơ sở xác định giữa bà C và Công ty TNHH I có ký kết hợp đồng lao động. Tại Quyết định nghỉ việc số 00151/QĐNV ngày 14/3/2023 thể hiện: Đồng ý cho bà Lê Thị C nghỉ việc từ ngày 14/03/3023, lý do giải quyết theo Đơn xin nghỉ việc của người lao động. Như vậy, có cơ sở xác định giữa bà C và Công ty TNHH I có xác lập quan hệ lao động và việc các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động.
[3.2] Đối với việc nguyên đơn yêu cầu đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023 và thực hiện xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho bà C tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ theo Bản ghi quá trình đóng BHXH, BHTN của bà Lê Thị C (Mã số bảo hiểm xã hội: 7526370199) ngày 12/3/2024 và Công văn số 59/BHXH ngày 24/3/2025 của Bảo hiểm xã hội huyện X cung cấp, thể hiện: “Công ty TNHH I không đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho bà C từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023”. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 21; khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động, có nội dung: “Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội” và “Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động... trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”. Do đó, về trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Từ các căn cứ trên, Công ty TNHH I đã có lỗi trong việc không thực hiện đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm nên xét thấy bà C yêu cầu Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà tại Bảo hiểm xã hội huyện X từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023 và thực hiện xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho bà C là có cơ sở chấp nhận.
[4]. Về án phí lao động sơ thẩm: Do tranh chấp về tiền bảo hiểm nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí. Công ty TNHH I phải chịu tiền án phí.
[5]. Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điểm a khoản 1 Điều 188, khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;
- - Khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; khoản 1 Điều 44 Luật Việc làm năm 2013;
- - Luật Thi hành án dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc Công ty TNHH I có trách nhiệm đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị C từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023 tại bảo hiểm xã hội huyện X và thực hiện xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho cho bà Lê Thị C theo luật định;
2. Về án phí:
Công ty TNHH I phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH I chưa nộp án phí.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 97/2025/LÐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Số bản án: 97/2025/LÐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Cam, Công ty TNHH Innolux Footwear Việt Nam - Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
