Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HSST

Ngày: 24/06/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Hành.
    2. Ông Nguyễn Văn Tuất.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

ĐẶNG QUỐC H, sinh năm 2004;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã N, huyện P, thành phố Hà Nội; Nơi ở: TDP H, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Đặng Văn S và con bà Đặng Thị H1 (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú ngày 06/01/2025, bị tạm giữ từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • + Anh Trần Trung N, sinh năm 1999.

Nơi đăng ký thường trú: Số 799 Vũ hữu Lợi, phường Nam Vân, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Nơi ở: Số 137 đường Chiến Thắng, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu sài, Đặng Quốc H nảy sinh ý định thuê tài khoản của lái xe ứng dụng “Be” sau đó nhận những đơn hàng vận chuyển, nếu gặp đơn hàng có giá trị thì thực hiện hủy đơn và chiếm đoạt tài sản. Ngày 02/12/2024, H dùng tài khoản Facebook của H là “Đặng H” vào nhóm “Cộng đồng B” đăng bài với nội dung “tìm thuê app bee khu vực cầu giấy, bắc từ liêm” thì nhận được phản hồi của tài khoản facebook tên “Minh Sơn” của Tẩn Minh S1 (SN: 2006; HKTT: bản Tà Phìn, tà Phìn, S, Lai Châu) với nội dung “ib”. Sau đó, H sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin cho S1. Hai bên trao đổi, thỏa thuận S1 sẽ cho H thuê một tài khoản tài xế của ứng dụng lái xe “Be” mang tên “Đỗ Văn K” với giá thuê là 400.000 đồng/tháng và đặt cọc 500.000 đồng. Đặng Quốc H chưa thanh toán số tiền này cho S1. Sau đó, S1 cung cấp cho H tên đăng nhập, mật khẩu của tài khoản ứng dụng “Be” mà S1 đã thuê của Đỗ Văn K (SN: 2001; HKTT: Triều Khúc, Đ, Ứ, Hà Nội).

Ngày 03/12/2024, H sử dụng điện thoại nhãn hiệu Xiaomi K50 Ultra bên trong lắp số thuê bao 0819670747 cài đặt tài khoản “Be” “Đỗ Văn K” để nhận chở khách và hàng bình thường. Khoảng 08 giờ 00 ngày 03/12/2024, H vào nhóm “cộng đồng B” đăng nhập app “Be” thì nhận được 01 đơn hàng giao ship 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu MacbookAir từ cửa hàng T1 thuộc khu tái định cư T, T, T, Hà Nội của anh Trần Trung N (SN: 1999; HKTT: N, TP N, tỉnh Nam Định) đến người nhận là “Em Ngọc DC” có số điện thoại 0977.956.xxx có địa chỉ tại số D T, N, Hà Nội. Nhận thấy tài sản được giao có giá trị, H nên bấm nhận đơn trên app và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen đeo BKS: 29AP-00504 đến điểm nhận hàng. Khi đến nơi, H sử dụng app “Be” gọi điện để anh N ra giao máy tính. H hỏi anh gửi hàng đến 48 Tố Hữu phải không, thì N bảo đúng rồi, thì H nhận túi hàng và di chuyển đi. Khi đi được khoảng 400m đến khu vực khu tái định cư X, T, Hà Nội thì H mở túi hàng ra kiểm tra thì thấy bên trong túi hàng là 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook nên H mở máy điện thoại bấm ấn hủy đơn, không thực hiện việc giao máy tính cho khách và mang chiếc máy tính về nhà cất. Hưng kiểm tra máy tính thì phát hiện có mật khẩu, không mở được nên đã cất đi. Đến ngày 05/12/2024, H mang chiếc máy tính này đến cửa hàng cầm đồ của anh Vũ Đức H2 (SN: 1991; HKTT: Hướng Nghĩa, M, V, Nam Định) tại N, T, Hà Nội. H2 nói có chiếc máy tính Macbook M1 không biết mật khẩu, muốn bán xác máy. Sau khi thống nhất, anh Vũ Đức H2 đồng ý mua chiếc máy tính xách tay trên với giá 1.700.000 đồng. Nhân viên tại cửa hàng là anh Chu Đình T (SN: 1992, HKTT: Mi Thượng, T, T, Hà Nội) đã thanh toán cho H2 số tiền trên qua hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 33366699961204, chủ tài khoản DANG QUOC HUNG mở tại ngân hàng M. Việc mua bán chiếc máy tính, Vũ Đức H2 và Đặng Quốc H chỉ trao đổi miệng không viết giấy tờ gì. Số tiền bán máy tính Đặng Quốc H đã tiêu sài cá nhân hết. Sau khi chiếm đoạt được chiếc máy tính đến ngày 06/12/2024 Đặng Quốc H đã chặn facebook của S1 và xóa toàn bộ nội dung tin nhắn. Sau khi nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ngày 06/01/2025 Đặng Quốc H đã đến Cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Quốc H, quá trình khám xét phát hiện và tạm giữ của H: 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen, 01 áo khoác đồng phục Begroup màu vàng đen, 01 quần dài màu đen, 01 xe máy Honda Wave mang BKS 29AP- 005.04 là vật chứng liên quan hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 03/12/2024 của Đặng Quốc H. Ngoài ra, Cơ quan CSĐT còn tạm giữ của Đặng Quốc H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro 5G dung lượng 128Gb, số I 1: 868579079446161; số Imel 2: 868579079446179 bên trong gắn sim 0819670747 đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 04/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS UBND huyện T kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu A1; chip with 8 core, CPU/7-core GPU, 16 –core Neural Engine 8GB uniffieg memory, 256GB SSD, 13.3-inch Retina, Touch ID, Two Thunderrbolt/USB 4 post, Space Grey, macOS, Wty1Y-MNG63SA/A-Imei: SFFVFJQ18G1WWFV đã qua sử dụng mua ngày 15/5/2023 có giá trị: 14.600.000 đồng. (Bút lục số 46-47).

Đối với chiếc máy tính xách tay Đặng Quốc H đã chiếm đoạt, quá trình điều tra xác định: chiều ngày 06/12/2024 anh Vũ Đức H2 đã bán lại chiếc máy tính cho một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 1.700.000 đồng. Hiện Vũ Đức H2 không có thông tin về người đàn ông này. Quá trình Điều tra, Cơ quan Điều tra chưa thu hồi được chiếc máy tính trên. Xác định Vũ Đức H2 không biết chiếc máy tính do Đặng Quốc H bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT không đủ căn cứ xử lý Vũ Đức H2 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Ngày 14/02/2025, Đặng Quốc H đã bồi thường số tiền 14.600.000 đồng cho anh Trần Trung N. Anh N đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H và không có yêu cầu dân sự gì khác.

Quá trình Điều tra xác định: trong khoảng thời gian từ ngày 02/12/2024 đến hết ngày 06/12/2024, Công ty Cổ phần B1 nhận được 02 phản ánh kiến nghị đối với đối tác tài xế Đỗ Văn K (mã tài xế 11937246)về việc tài xế nhận đơn hàng nhưng không giao cho khách. Phản ánh khiếu nại thứ nhất là của bị hại Trần Trung N như đã nêu trên. Phản ánh khiếu nại thứ hai là của chị Hà Tú A (SN: 1994; HKTT: Căn hộ 2005, CT4, chung cư E, T, T, Hà Nội) về việc: Khoảng 14 giờ ngày 03/12/2024, tài xế nhận đơn đặt dịch vụ vận chuyển bánh kem của chị Tú A sau đó hệ thống báo tài xế đã hủy đơn, không thực hiện giao nên chị đã gửi phản ánh đến B. Tuy nhiên đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H đã giao đầy đủ bánh cho chị Tú A. Chị Tú A không còn yêu cầu, đề nghị gì đối với sự việc trên. Hiện Công ty Cổ phần B1 không còn yêu cầu, đề nghị hay kiến nghị gì đối với tài khoản tài xế “Đỗ Văn K”.

Đối với tài khoản tài xế BE “Đỗ Văn K” (mã tài xế 11937246). Quá trình điều tra xác định: tài khoản này do anh Đỗ Văn K sử dụng thông tin cá nhân, số điện thoại đăng ký 0386.965.xxx, xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29Y3-756.16 ký hợp đồng tài xế xe công nghệ với Công ty Cổ phần B2 từ tháng 6/2023. Anh K làm việc đến khoảng cuối tháng 10/2024 thì nghỉ ở nhà để chăm sóc vợ mới sinh con. Do xác định chỉ nghỉ tạm thời và muốn duy trì tài khoản để đi làm lại sau này nên K đã đăng bài trên nhóm “Mua bán cho thuê app/grab/be/aha/spf.lala/gv....các loại” trên facebook thì Tẩn Minh S1 sử dụng tài khoản facebook “Minh S1” liên hệ thuê tài khoản trên của K với giá 400.000 đồng/tháng. K đồng ý cho S1 thuê tài khoản, không cho thuê xe và số điện thoại nhận mã OTP. Khoảng tháng 11/2024, K cung cấp tên đăng nhập, mật khẩu, mã OTP để S1 đăng nhập vào ứng dụng BE. Sau khi đăng nhập thành công, S1 đã thanh toán cho K tổng số tiền 390.000 đồng qua hình thức chuyển khoản. Trong thời gian thuê, “Minh Sơn” liên hệ qua ứng dụng Messenger nhờ K đọc mã OTP hộ. S1 sử dụng tài khoản này được một thời gian thì bận học nên không chạy xe công nghệ được nên S1 đã cho Đặng Quốc H thuê như trên. Xác định Đỗ Văn K, Tẩn Minh S1 không biết và không tham gia thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản cùng Đặng Quốc H nên cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.

Đối với 01 xe máy Honda Wave đeo BKS 29AP-005.04 thu giữ của Đặng Quốc H, quá trình điều tra xác định xe có số máy: JA70E0173528, số khung: RLHJA3933PY118376 là nguyên thủy. Kết quả tra cứu: xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng - là tài sản của ông Đặng Văn S (SN: 1980; HKTT: Thôn A, N, P, Hà Nội – là bố của H) cho H mượn để đi học. Ông S không biết Đặng Quốc H sử dụng chiếc xe máy trên để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông S. Ông S đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu dân sự gì.

Đối với 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen, 01 áo khoác đồng phục Begroup màu vàng đen, 01 quần dài màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro 5G bên trong gắn sim 0819670747 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của Đặng Quốc H có liên quan đến hành vi phạm tội của H, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS-TT ngày 29 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Đặng Quốc H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Đặng Quốc H từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 tháng 20 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về dân sự:

Bị cáo Đặng Quốc H đã bồi thường số tiền 14.600.000 đồng cho anh Trần Trung N. Anh N đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H và không có yêu cầu dân sự gì khác.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen, 01 áo khoác đồng phục Begroup màu vàng đen, 01 quần dài màu đen.
  • - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro 5G dung lượng 128Gb, số I 1: 868579079446161; số Imel 2: 868579079446179 bên trong gắn sim 0819670747 đã qua sử dụng

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà:

Bị cáo Đặng Quốc H giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Khoảng 08 giờ 00 ngày 03/12/2025, tại khu tái định cư T, xã T, huyện T, Hà Nội, bằng thủ đoạn thuê tài khoản tài xế của BeGroup để nhận giao hàng cho khách, Đặng Quốc H đã có hành vi chiếm đoạt 01 máy tính xách tay nhãn hiệu A1 M1 trị giá 14.600.000 đồng của anh Trần Trung N. Tài sản hiện không thu hồi được. Bị cáo đã bồi thường cho anh N số tiền 14.600.000 đồng. Hiện anh N không còn yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Hành vi của bị cáo Đặng Quốc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý và động cơ vụ lợi cá nhân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiểm hình sự cho bị cáo theo quy định điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, đang là sinh viên, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7]. Về vật chứng:

Đối với 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen, 01 áo khoác đồng phục Begroup màu vàng đen, 01 quần dài màu đen là tài sản của bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro 5G dung lượng 128Gb, số I 1: 868579079446161; số Imel 2: 868579079446179 bên trong gắn sim 0819670747 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về dân sự:

Bị cáo đã bồi thường số tiền 14.600.000 đồng cho anh Trần Trung N. Anh N không có yêu cầu dân sự gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về các vấn đề khác:

- Đối với tài khoản tài xế BE mang tên “Đỗ Văn K” (mã tài xế 11937246), quá trình điều tra xác định: tài khoản này do anh Đỗ Văn K sử dụng thông tin cá nhân, số điện thoại đăng ký 0386.965.xxx, xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29Y3-756.16 ký hợp đồng tài xế xe công nghệ với Công ty Cổ phần B2 từ tháng 6/2023 đến khoảng cuối tháng 10/2024 thì tạm nghỉ việc để chăm sóc vợ mới sinh con. Để duy trì tài khoản sử dụng sau này, K đã cho Tẩn Minh S1 thuê lại tài khoản trên với giá 400.000 đồng/tháng, không cho thuê xe và số điện thoại nhận mã OTP. Khoảng tháng 11/2024, K cung cấp tên đăng nhập, mật khẩu, mã OTP để S1 đăng nhập vào ứng dụng BE. Sau khi đăng nhập thành công, S1 đã thanh toán cho K tổng số tiền 390.000 đồng qua hình thức chuyển khoản. S1 sử dụng tài khoản này được một thời gian thì bận học nên cho Đặng Quốc H thuê lại tài khoản. Quá trình điều tra xác định anh K và S1 không biết, không tham gia và không đồng phạm trong hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản do H thực hiện. Do đó, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với K và S1. Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với anh Vũ Đức H2, anh H2 không biết chiếc máy tính do Đặng Quốc H bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT không đủ căn cứ xử lý Vũ Đức H2 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với 01 xe máy Honda Wave đeo BKS 29AP-005.04 thu giữ của Đặng Quốc H, quá trình điều tra xác định xe có số máy: JA70E0173528, số khung: RLHJA3933PY118376 là nguyên thủy. Kết quả tra cứu: xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng - là tài sản của ông Đặng Văn S (SN: 1980; HKTT: Thôn A, N, P, Hà Nội – là bố của H) cho H mượn để đi học. Ông S không biết Đặng Quốc H sử dụng chiếc xe máy trên để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông S. Ông S đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu dân sự gì. Hội đồng xét xử không xét

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[11].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc H 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/06/2025).

Giao bị cáo Đặng Quốc H cho Ủy ban nhân dân phường V, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen đã qua sử dụng, 01 áo khoác đồng phục Begroup màu vàng đen đã qua sử dụng, 01 quần dài màu đen đã qua sử dụng.
  • - Trả lại bị cáo Đặng Quốc H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro 5G dung lượng 128Gb, số I 1: 868579079446161; số Imel 2: 868579079446179 bên trong gắn sim 0819670747 đã qua sử dụng.

(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/05/2025)

[3]. Về án phí: Bị cáo Đặng Quốc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có)
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Lê Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HSST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 97/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger