Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HS-ST

Ngày: 30-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Minh Châu
  2. Ông Võ Văn Vui.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Lan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 94/2025/HSST ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 24 tháng 6 năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 29/10/2024, nơi cấp: Cục C về TTXH. Nơi cư trú: Ấp C, xã N, thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Làm mướn. Trình độ học vấn: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958; con bà Trần Thị T2, đã chết; có vợ: Nguyễn Thị Hồng T3, sinh năm 1993 (đã ly hôn). Có con: 01 người sinh năm 2014.

- Tiền án: Bản án số 374 ngày 7/9/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Văn T 09 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/5/2025, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/8/2025 cho đến nay tại Phân Trại tạm giam T - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T.

Bị cáo có mặt tại Tòa.

- Bị hại:

  1. Chị võ Thanh T4, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Ấp A, xã L, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Chấp hành xong án phát tù ngày 26/5/2025 về địa phương sinh sống nhưng không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/8/2025, T chuẩn bị dụng cụ gồm kiềm, đinh ốc, bao tay vải, khẩu trang vải rồi điều khiển xe mô tô loại Wave màu đỏ, biển số 86F-2808 đi từ nhà tại ấp C, xã N, thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh Tây Ninh để tìm nhà dân sơ hở đột nhập trộm cắp tài sản. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T đến khu vực ấp A, xã L, tỉnh Tây Ninh thấy nhà chị Võ Thanh T4 đóng cửa, không người trông coi nên T cất giấu xe mô tô tại vườn cao su và leo hàng rào vào khuôn viên nhà chị T4 rồi dùng ốc vít và kiềm mang theo cắt cửa sắt phía sau tạo thành lỗ trống đút tay vào bên trong mở chốt cửa. Khi vào được bên trong nhà, T đi vào các phòng ngủ lục soát tủ lấy trộm được 600.000 đồng và các trang sức gồm: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng có đính nhiều hạt đá màu trắng; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng, T bỏ tài sản trộm được vào túi áo khoác đang mặc rồi tẩu thoát ra bên ngoài ấy xe mô tô chạy về nhà. Lúc về đến nhà, T lấy trang sức trộm được ra kiểm tra thì còn 01 sợi dây chuyền màu trắng; 01 mặt dây chuyền màu trắng và 01 chiếc bông tai màu trắng, chiếc bông tai còn lại T không biết rơi mất ở đâu. Số tiền 600.000 đồng T đã tiêu xài hết riêng trang sức bạc T chưa tìm được nơi tiêu thụ.

Quá trình điều tra: T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. T có bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội là liệt sĩ.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an xã L đối với Nguyễn Văn T vào ngày 14/8/2025 thể hiện: Âm tính

Bản kết luận giám định số 3952/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

  • 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng, khối lượng: 10,5730 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là B (A): 98,05%, Đ (Cu): 1,50 %.
  • 01 mặt dây chuyền có đính nhiều hạt màu trắng, tổng khối lượng (cả hạt): 2,9455 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là B (A): 93,47%, Đ (Cu): 2,03%, K (Z): 4,32%.
  • 01 chiếc bông tai kim loại màu trắng, có đính nhiều hạt màu trắng, tổng khối lượng (cả hạt) là 2,8882 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là B (A): 98,62%, Đ (Cu): 1,23%.
  • Kết luận số 1613/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định số máy: HC08E-0465271, số khung: RLHHC08062Y465272 không bị đục xóa. (Bút lục số: 142)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2025 của hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xã L kết luận: 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng, khối lượng: 10,5730 gam; 01 mặt dây chuyền có đính nhiều hạt màu trắng, tổng khối lượng (cả hạt): 2,9455 gam; 01 đôi bông tai kim loại màu trắng, có đính nhiều hạt màu trắng, tổng khối lượng (cả hạt) là 2,8882 gam đều đã qua sử dụng có giá trị 918.000 đồng tại thời điểm ngày 07/8/2025. (Bút lục số: 172-173)

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

  • Thu 01 USB màu bạc, loại 08 GB do bà T4 giao nộp, lưu trữ dữ liệu hình ảnh T thực hiện hành vi vào nhà bà T4 tìm kiếm tài sản để trộm cắp, lưu theo hồ sơ vụ án.
  • Thu 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, chiều dài 46 cm, có móc khóa, gắn một mặt bằng kim loại màu trắng, hình tròn có đường kính 1,5 cm; 01 bông tai bằng kim loại màu trắng, đường kính 1,5 cm do T giao nộp. Đã được xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • * Đối với chiếc bông tai còn lại của chị T4 Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa tìm được.

Về trách nhiệm dân sự: Chị T4 không yêu cầu bồi thường lại số tài sản mà T lấy trộm và tiêu xài.

Tại Cáo trạng số 263/CT-VKSKV11 ngày 03 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị T4 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường lại số tài sản mà T lấy trộm và tiêu xài.

Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản, ý kiến của bị hại, lời khai của bị cáo, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 07/8/2025, tại địa bàn thuộc ấp A, xã L, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn T là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Võ Thanh T4 gồm: 01 dây chuyền bằng bạc, 01 mặt dây chuyền bằng bạc, 01 đôi bông tai bằng bạc và 600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt của chị T4 là 1.518.000 đồng.

Hành vi lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản của bị hại mà bị cáo đã thực hiện đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tại thời điểm phạm tội bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, số tiền thu được từ bán tài sản trộm cắp bị cáo sử dụng mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo T đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại, làm mất trật tự an ninh xã hội, bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, nhân thân bị cáo không được tốt, ngày 7/9/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/5/2025, chưa được xóa án tích. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không có việc làm, thu nhập ổn định lại chây lỳ lao động, có thể coi tài sản có được từ việc trộm cắp là nguồn thu nhập của mình, bị cáo chỉ thích hưởng thụ trên công sức của người khác, số tiền thu được từ bán tài sản trộm cắp bị cáo sử dụng chi tiêu mục đích cá nhân, đây cũng là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Không có.

[4.2.] Tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện, bị cáo có Bà N được truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, có Ông N là Liệt S. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về phần trách nhiệm dân sự: Chị T4 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

[7] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46; 47; 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô loại Wave màu đỏ, biển số 86F-2808 số máy: HC08E-0465271; số khung: RLHHC08062Y465272 đã qua sử dụng (xe của bị cáo T dùng làm phương tiện phạm tội)

Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không có giá trị kèm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 như sau:

  • 01 một nó lưỡi trai, đặc điểm: Nón lưỡi trai bằng vải màu xanh đen, trên nón có dòng chữ AIR màu đỏ.
  • 01 áo khoác dài tay, đặc điểm: Áo khoác dài tay, màu đem, phía trước bên trái áo và phía sau áo có dòng chữ EMPIRE màu trắng.
  • 01 đôi dép bằng nhựa, đế màu đen đặc điểm: Đôi dép bằng nhựa, đế màu đen, quai ngang sọc ca rô màu đen – nâu
  • 03 đinh ốc bằng kim loại, đặc điểm: Đinh ốc bằng kim loại, mỗi đinh ốc dài 2,5 cm
  • Một cây kìm, đặc điểm: cây kìm dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại dài 8cm, cán bọc nhựa màu đỏ đen dài 13 cm.

Tang tài vật hiện Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 11 – Tây Ninh đang tạm giữ.

Các tài sản khác bị hại đã nhận không yêu cầu bồi thường nên ghi nhận.

[8] Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2025.
    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Trách nhiệm dân sự: Chị T4 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
  4. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô loại Wave màu đỏ, biển số 86F-2808 số máy: HC08E-0465271; số khung: RLHHC08062Y465272 đã qua sử dụng (xe của bị cáo T dùng làm phương tiện phạm tội)
    Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không có giá trị kèm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 như sau:
    • 01 một nó lưỡi trai, đặc điểm: Nón lưỡi trai bằng vải màu xanh đen, trên nón có dòng chữ AIR màu đỏ.
    • 01 áo khoác dài tay, đặc điểm: Áo khoác dài tay, màu đem, phía trước bên trái áo và phía sau áo có dòng chữ EMPIRE màu trắng.
    • 01 đôi dép bằng nhựa, đế màu đen đặc điểm: Đôi dép bằng nhựa, đế màu đen, quai ngang sọc ca rô màu đen – nâu
    • 03 đinh ốc bằng kim loại, đặc điểm: Đinh ốc bằng kim loại, mỗi đinh ốc dài 2,5 cm
    • Một cây kìm, đặc điểm: cây kìm dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại dài 8cm, cán bọc nhựa màu đỏ đen dài 13 cm.
    Tang tài vật hiện Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 11 – Tây Ninh đang tạm giữ.
    Các tài sản khác bị hại đã nhận không yêu cầu bồi thường nên ghi nhận.
  5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND Khu vực 11;
  • - Phân trại tạm giam Tân Châu - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - PV06 – Công an tỉnh TN;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I;
  • - UBND, Công an nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 97/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2025.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger