|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/HS-ST Ngày 10/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thụ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Quý Nam;
Bà Hoàng Thị Hường.
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Xuân Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2015/TLST-HS ngày 22/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 472/2025/QĐXXST-HS ngày 26/5/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bế Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 5/8/1984; tại T, H, Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nông dân; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Bế Văn C (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1957, nghề nghiệp: làm ruộng; Vợ: Triệu Thị T2, sinh năm 1989, nghề nghiệp: làm ruộng; Con: 02 con, con thứ nhất sinh năm 2013, con thứ 2 sinh năm 2018; Cùng trú tại: xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C kể từ ngày 04/3/2025 đến nay, (có mặt).
2. Họ và tên: Lý Văn K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/5/1987; tại T, H, Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nông dân; Trình độ học vấn: 9/12 phổ thông; Họ và tên cha: Lý Quang T3 (đã chết); Họ và tên mẹ: Lý Thị M, sinh năm 1952, nghề nghiệp: làm ruộng; Vợ: Vy Thị Q, sinh năm 1993, nghề nghiệp: làm ruộng; Con: 02 con, con thứ nhất sinh năm 2015, con thứ 2 sinh năm 2017; Cùng trú tại: xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C kể từ ngày 04/3/2025 đến nay, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 03/3/2025, tại khu vực xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu S- Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C phối hợp với Công an xã T, huyện H bắt quả tang Lý Văn K (sinh năm 1987, trú tại xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng) điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA, màu xanh đen, biển kiểm soát 11H1-234.73 đang di chuyển theo hướng từ biên giới Việt Nam - Trung Quốc vào nội địa, trên xe chở theo 01 bao tải màu vàng nghi là hàng cấm. K khai nhận trong bao tải là pháo Trung Quốc, do Bế Văn T (sinh năm 1984, trú tại: xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng) thuê K vận chuyển. Đến 23 giờ cùng ngày, tại Đồn Biên phòng cửa khẩu S- Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C, T thừa nhận số pháo trong bao tải màu vàng là của T thuê K vận chuyển từ mốc biên giới về nhà riêng. Ngoài ra, T tự nguyện giao nộp 01 bao tải màu xanh, bên trong có 10 khối hộp T khai là pháo. Đồ vật đã thu giữ gồm: 01 bao tải màu vàng bên trong có nhiều khối hộp nghi là pháo; 01 xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 11H1-234.73 của K; 01 điện thoại di động Iphone của K; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lý Văn K, 01 bao tải màu xanh bên trong có 10 khối hộp nghi là pháo; 01 điện thoại OPPO A31, màu đen của Trầm.
Hồi 10 giờ 20 phút ngày 04/3/2025, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, tiến hành cân vật chứng có kết quả như sau: Bên trong bao tải dứa màu vàng có chứa 12 khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 18kg. Bên trong bao tải dứa màu xanh có chứa 10 khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 15kg. Tổng 22 khối hộp có khối lượng là 33kg. Kết luận giám định số 166 ngày 11/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “Các mẫu vật hình khối hộp gửi giám định đều là pháo nổ”.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Qua mối quan hệ xã hội, Bế Văn T quen biết 01 người đàn ông tên H, trú tại tỉnh Vĩnh Phúc, sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Technology Hoàng H”. H liên hệ với T để mua pháo nổ và thỏa thuận sẽ tự nhận hàng hoặc gửi xe khách sau, T đồng ý. Trầm biết 01 người đàn ông Trung Quốc có tên gọi là “Pán” và liên hệ với người này để mua pháo về Việt Nam bán lại cho H kiếm lời. Ngày 24/02/2025, thông qua ứng dụng W, T đặt mua với “Pán” 10 hộp pháo nổ với giá 500 NDT, đồng thời liên hệ qua điện thoại thuê Lý Văn K lên mốc 674 nhận pháo với “Pán” tại hàng rào biên giới rồi vận chuyển về nhà T. Trầm trả tiền công vận chuyển cho K là 300.000 đồng, số pháo gồm 10 hộp đựng trong bao tải màu xanh mà T tự giác giao nộp. Đến chiều ngày 02/3/2025, T tiếp tục đặt mua 12 hộp pháo với “Pán” và thuê K lên mốc 674 để lấy pháo như lần trước. Trầm đưa cho K 700 NDT để trả tiền cho “Pán” và dặn khi nào lên đến mốc thì gọi cho T để T gọi P mang pháo đến. Tuy nhiên do trời sắp tối nên K trả lời Trầm ngày hôm sau mới đi lấy pháo được. Chiều ngày 03/3/2025, K điều khiển xe máy biển kiểm soát 11H1-234.73 lên mốc 674, đến mốc K gọi điện báo cho T. Kỳ đợi khoảng một tiếng thì có 01 người đàn ông Trung Quốc đến và đưa qua hàng rào biên giới cho K 01 bao tải đựng pháo màu vàng. K đưa lại cho người này 700 NDT rồi chở pháo về nhà T. Khi đến xóm B, xã T, huyện H thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Vật chứng vụ án thu được là 33 kg pháo nổ.
Ngày 02/4/2025, Hội đồng tiêu hủy vật chứng đã xử lý vật chứng bằng hình thức tiêu hủy ngâm nước, đào hố chôn lấp. Việc tiêu hủy vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 36/CTr-VKSCB-P1 ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Bế Văn T về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự; Truy tố Lý Văn kỳ về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố đúng hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội và nhận định hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại Cơ quan điều tra và tại tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, các bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nawmgj là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 cảu Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bế Văn T từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù;
Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn K từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung cả hai bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 33 kg pháo nổ, (Biên bản tiêu hủy vật chứng ngày 02/4/2025)
- - Tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 11H1-234.73, có phiếu trả lời xác minh của phòng C1 Công an tỉnh C, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của bị cáo Bế Văn T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE của bị cáo Lý Văn K dùng vào việc phạm tội để nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo nhất trí với cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung, không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hói cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, B tự khai, biên bản ghi lời khai; Biên bản kiểm tra điện thoại; Biên bản thu giữ, kiểm tra và niêm phong điện thoại của các bị cáo, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ căn cứ chứng minh: Bế Văn T được 01 người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo “Technology Hoàng H” liên hệ mua pháo nổ. Trầm đã liên hệ với 01 người đàn ông Trung Quốc gọi là “Pán” để mua pháo về Việt Nam bán lại cho H kiếm lời. Ngày 24/02/2025, T đặt mua với “Pán” 10 hộp pháo nổ với giá 500 NDT rồi thuê Lý Văn K lên mốc 674 nhận pháo qua hàng rào biên giới, sau đó chở pháo về nhà cho T, và K được Trầm trả tiền công 300.000 đồng. Đến chiều 02/3/2025, T tiếp tục đặt mua 12 hộp pháo với “Pán” với giá 700 NDT rồi thuê K lên mốc 674 để lấy pháo. Chiều ngày 03/3/2025, K lên mốc 674 lấy pháo với “Pán”, khi đang trên đường chở pháo về nhà T thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Lần này K chưa nhận được tiền công. Tổng cộng 22 hộp pháo nổ có khối lượng là 33 kg, vị trí giao nhận pháo cả hai lần đều thuộc địa phận Trung Quốc.
Hành vi của Bế Văn T đã phạm vào Tội buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự; Hành vi của Lý Văn K đã phạm Tội vận chuyển hàng cấm, quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.
“Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
......
k) Buôn bán qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu;
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
......
c) P1 nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
......
k) Vận chuyển qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu;
......”
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng tội, không oan.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo đều thực hiên hành vi buôn bán, vận chuyển qua biên giới, mục đích, động cơ phạm tội là nhằm thu lợi bất chính, nhưng đang vận chuyển thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
[3]. Vai trò của bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.
[4]. Về nhân thân, các tỉnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân:
- + Bị cáo Bế Văn T có nhân thân xấu: Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ (đương nhiên được xóa án tích).
- + Bị cáo Lý Văn K có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào.
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo đều phạm tội nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần áp dụng biện pháp cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để xử lý nghiêm người phạm tội và tuyên truyền pháp luật trong nhân dân nói chung.
[6]. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7]. Về hướng xử lý vật chứng: 01 (một) xe máy BKS: 11H1-234.73 cảu Lý Văn K là phương tiện để chở pháo và 02 điện thoại di động của hai bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách nhà nước.
[9]. Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng bán pháo cho Bế Văn T, quá trình điều tra xác minh không đủ thông tin để Cơ quan điều tra tiếp tục mở rộng vụ án và thực hiện việc tương trợ tư pháp;
Đối với người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo “Technology Hoàng H”, với các chứng cứ tài liệu đã thu thập được, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ thêm.
[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh, mức hình phạt, về hướng xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Bế Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Bị cáo Lý Văn K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
- + Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bế Văn T 05 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 04/3/2025.
- + Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lý Văn K 02 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 04/3/2025.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 33 kg pháo nổ (đã tiêu hủy theo Biên bản tiêu hủy vật chứng ngày 02/4/2025).
- - Tịch thu phát mại lấy tiền nộp Ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 11H1-234.73, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu: HONDA, số loại: JA364 BLADE, màu sơn: Xanh Đen; số máy: JA36E0839037, số khung: RLHJA3647LY000838, dung tích xi lanh: 109cm3, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2020, xe đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết trầy xước đã cũ (có 01 chìa khóa xe kèm theo).
- Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 06/6/2025 của Phòng C1 Công an tỉnh C.
- Kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 020742, cấp ngày: 04/02/2020.
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi "Điện thoại OPPO của Bế Văn T". Mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lại các dầu hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi "Điện thoại IPHONE của Lý Văn K". Mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lai các dấu hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh C.
- (Số vật chứng trên đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh C bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 102 ngày 09 tháng 6 năm 2025).
4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Bế Văn T và lý Văn K mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thụ |
8
Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về buôn bán hàng cấm, vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 97/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm, Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bế Văn Tr và đồng phạm phạm tội buôn bán, vận chuyển hàng cấm
