Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HS-ST

Ngày 04 tháng 03 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

Bà Lê Thị Ngọc Ngân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Quốc A; Giới tính: Nam;
  2. Tên gọi khác: Ty già; Sinh năm 1989, tại Đồng Nai;

    Nơi cư trú: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

    Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: Không;

    H và tên cha: Nguyễn B, sinh năm 1963 (còn sống);

    Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (còn sống);

    Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 05 và chưa có vợ, con;

    Tiền án: Ngày 22/7/2015, bị TAND TP . Biên Hòa xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa xóa án tích).

    Tiền sự: Không;

    Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Phân trại tạm giam Khu vực B1 trực thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ

  3. Họ và tên: Nguyễn Vũ S; Giới tính: Nam;
  4. Tên gọi khác: không; Sinh ngày 28 tháng 4 năm 1988, tại Đồng Nai;

    Nơi cư trú: M N, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo;

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: Không;

    H và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1951 (đã chết);

    Họ và tên mẹ: Vũ Thị N, sinh năm 1953 (còn sống);

    Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 06;

    Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Kiều K, sinh năm 1990 và có 02 người con (sinh năm 2016 và 2019);

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/01/2025 và tạm giam đến nay. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực B1 trực thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Bị hại: Anh Trần Quang T1, sinh năm 1987

Địa chỉ: Đ bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ

(bị cáo A, bị cáo S có mặt; bị hại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc A, Nguyễn Vũ S và anh Trần Quang T1 (tên gọi khác là Phi T2, sinh năm 1987, nơi đăng ký thường trú: số F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đều là những người có sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng cuối tháng 3 năm 2020 (không nhớ ngày), anh T2 liên hệ Quốc A để mua ma túy nên Quốc A đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh T2 và rủ S mua đường phèn giả làm ma túy bán cho T2 thì S đồng ý. Thực hiện ý định trên, Quốc A và S cùng nhau đi đến tiệm tạp hóa (không nhớ tên và địa chỉ cụ thể) mua đường phèn (không nhớ số lượng) rồi Quốc A bỏ đường phèn vào trong túi nilong màu trắng giả làm ma túy đá. Sau đó, S điều khiển xe môtô Trung Quốc kiểu dáng Wave (không nhớ biển số) chở Quốc A đi đến đường hẻm khu vực gần Công ty H1 thuộc khu phố F, phường T, thành phố B gặp anh T2 để lừa bán ma túy giả. Tại đây, S dừng xe đứng chờ, còn Quốc A trực tiếp giao dịch bán ma túy giả cho anh T2 được số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), chia nhau tiêu xài hết. Đến ngày 02/4/2020, anh T2 đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của S và bị Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý, đồng thời phát hiện hành vi lừa đảo nêu trên nên ngày 19/11/2024, Quốc A và S đã bị khởi tố để điều tra, xử lý.

Vật chứng vụ án gồm:

  • Số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) của anh T2, sau khi chiếm đoạt được, các bị cáo đã chia nhau tiêu xài hết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được;
  • 01 bịch nylong bên trong có đựng đường phèn, là công cụ các bị cáo đã sử dụng thực hiện tội phạm. Sau khi mua phát hiện không phải ma túy nên anh T2 đã vứt bỏ (không xác định được địa điểm) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được;
  • 01 chiếc xe môtô Trung Quốc kiểu dáng Wave (không nhớ biển số) của bị cáo S mua lại của người khác (không nhớ họ tên và địa chỉ), sau khi sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo S đã bán cho người (không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
  • Số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) do chị Nguyễn Thị Kiều K (sinh năm 1990, nơi đăng ký thường trú: M2/6 Nguyễn Ái Q, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là vợ của bị cáo S giao nộp để bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả.

Về dân sự: Bị hại là anh Trần Quang T1 yêu cầu các bị cáo Quốc A và S phải bồi thường số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Hiện bị cáo Quốc A chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 133/CT-VKSBH ngày 11 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc A; Nguyễn Vũ S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù giam.
  3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s; i; b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 08 tháng tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là vào khoảng cuối tháng 3 năm 2020 (không nhớ ngày), tại khu vực đường hẻm khu vực gần Công ty H thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, Nguyễn Quốc A và Nguyễn Vũ S đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) của anh Trần Quang T1 thì bị phát hiện, khởi tố, điều tra xử lý.

[3] Về tội danh:

Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tình tiết khách quan và chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định bị cáo A là người chủ mưu, rủ rê bị cáo S phạm tội, đồng thời là người trực tiếp thực hiện tội phạm nên bị cáo A giữ vai trò chính trong vụ án; bị cáo S là người cùng bị cáo A đi thực hiện tội phạm; bị cáo S là đồng phạm trong vụ án, đóng vai trò giúp sức nên có mức án thấp hơn so với bị cáo A.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu của công dân; bị cáo Quốc A phạm tình tiết tái phạm, bị cáo S có nhân thân xấu từng bị xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; nay các bị cáo lại vi phạm pháp luật thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, cần phải có mức hình phạt phù hợp cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quốc A phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Cả 02 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự);
  • Bị cáo S đã tác động gia đình giao nộp tiền để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (quy định tại các điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).

[7] Về dân sự:

Bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 4.000.000đ; Gia đình S đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000₫.

[8] Đối với hành vi của anh Trần Quang T1 chiếm đoạt tài sản của bị cáo S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố, xử lý riêng trong vụ án khác.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A mức án: 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù giam. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

  • Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s, i, b khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ S mức án: 10 (mười) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2025.

  • Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật hình sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc A; Nguyễn Vũ S phải liên đới bồi thường cho bị hại Trần Quang T1 số tiền 4.000.000₫ (bốn triệu đồng); Cụ thể: bị cáo Nguyễn Quốc A bồi thường số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Vũ S bồi thường số tiền 2.000.000đ.
  • Tạm giữ số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) do gia đình bị cáo S nộp theo Biên lai số 0001828 ngày 19/2/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự TP. Biên Hòa, để đảm bảo thi hành án.

  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Anh chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm; bị cáo S chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
  • Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố B;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an thành phô B;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Nhàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

...

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 97/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn quốc A và đồng phạm có hành vi lừa đảo chiếm đoaT TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger