Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HS-PT

Ngày: 23-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương và ông Lê Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Trí, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 64/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Thái H, do có kháng cáo của bị đơn dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo: Bùi Thái H, sinh năm 1996, tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Trọng T và bà Nguyễn Thị Kim H1; có vợ Nguyễn Thị H2 và 02 con; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại; Có mặt.

- Bị hại: Ông Hà Văn H3 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Ông Hà Văn C, sinh năm 1952, là cha của bị hại; có mặt.
  • + Bà Lưu Thị N, sinh năm 1960, là mẹ của bị hại; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn dân sự có kháng cáo: Công ty TNHH Một thành viên D; Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Khắc S, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khối phố X, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam; chức vụ: Giám đốc công ty.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc H4, sinh năm 1994; Nơi cư trú: B T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Hồ Gia B, sinh ngày 02/4/2010; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện hợp pháp của cháu B: Bà Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thái H, có giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 20/6/2022 có giá trị đến ngày 20/6/2027. H là lái xe theo hợp đồng cho Công ty TNHH MTV D.

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 28/8/2024, Bùi Thái H điều khiển xe ô tô BKS 92E - 013.05 xuất phát từ Ninh Thuận đi Đồng Nai để vận chuyển hàng hóa, H trực tiếp điều khiển xe lưu thông trên QL1A hướng Ninh Thuận - Đồng Nai, cùng đi trên xe có Cái V ngồi ghế phụ xe. Đến khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, khi đến Km 1752 + 320m QL1A thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. H thấy phía bên trái đường hướng di chuyển có quán C1 nên cho xe ô tô biển số 92E - 013.05 chuyển hướng rẽ trái để ghé vào ăn uống, nghỉ ngơi. Trước khi chuyển hướng H quan sát thấy có 01 xe ô tô loại 04 chỗ (không rõ biển số) và xe mô tô biển số 86B5 - 153.98 do Hà Văn H3 đang di chuyển ngược chiều trên phần đường bên phải hướng Đồng Nai – Ninh Thuận, xe ô tô 04 chỗ đi chậm để nhường đường, xe mô tô do ông H3 điều khiển không giảm tốc độ, nhưng thấy khoảng cách xa nên H liền điều khiển xe ô tô BKS 92E - 013.05 chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái (theo hướng di chuyển). Khi phần đầu xe ô tô BKS 92E - 013.05 vào đến lề đất, phần thùng xe nằm xéo chắn ngang phần đường bên phải hướng Đồng Nai – Ninh Thuận thì xe mô tô biển số 86B5 - 153.98 do H3 điều khiển đi đến tông vào bánh xe phía sau bên phải của xe ô tô BKS 92E - 013.05, tại vị trí làn xe hỗn hợp bên phải hướng Đồng Nai – Ninh Thuận (cách lề đường bên phải 3,80m), làm Hà Văn H3 té ngã xuống đường bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, đến sáng ngày 29/8/2024 thì H3 tử vong.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan CSĐT Công an huyện H lúc 21 giờ 20 phút ngày 28/8/2024, thì hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện:

- Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, trong thời tiết trời mưa, đường ướt, có đèn đường, có biển báo “Bắt đầu khu đông dân cư” và biển báo “Hết tất cả các lệnh cấm”; mặt đường được trải bê tông nhựa, bằng phẳng, rộng 12.3m giữa tim đường là vạch sơn màu vàng nét đứt, chia thành hai chiều đường xe chạy, mỗi chiều đường xe chạy được chia thành hai làn đường bằng vạch kẻ sơn màu trắng nét đứt. Chiều đường hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận, làn đường sát mép lề phải (làn xe thô sơ) rộng 2.65m, làn tiếp theo nằm sát tim đường (làn xe hỗn hợp) rộng 3.5m. Chọn hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận làm hướng khám nghiệm, mép lề phải hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận làm mép chuẩn; chọn cột mốc Km 1752 + 300m nằm trên lề phải hướng Ninh Thuận đi Đồng Nai làm điểm mốc cố định. Quá trình khám nghiệm ghi nhận các dấu vết:

- Đánh dấu số (1) tại hiện trường là xe ô tô tải BKS 92E – 013.05: Sau tai nạn đầu xe nằm trong lề sỏi đất, đuôi xe nằm trên làn đường xe cơ giới và làn đường hỗn hợp, đầu xe lệch về hướng Ninh Thuận đi Đồng Nai, đo từ tâm trục bánh trước bên phải vào mép đường chuẩn là 3.45m, đo từ tâm trục bánh sau thứ nhất bên phải tính từ trước ra sau vào mép đường chuẩn là 0.70m, đo từ tâm trục bánh sau thứ hai bên phải tính từ trước ra sau vào mép đường chuẩn là 1m60, đo từ tâm trục bánh sau thứ hai bên phải tính từ trước ra sau vào tâm vùng mảnh vỡ số (2) là 3.1m.

- Đánh dấu số (2) tại hiện trường là vùng mảnh vỡ, kích thước (2.45x2.65)m, vùng mảnh vỡ nằm trên làn đường xe cơ giới và làn đường hỗn hợp, đo từ tâm vùng mảnh vỡ vào mép đường chuẩn là 3.80m.

- Đánh dấu số (3) tại hiện trường là dấu vết cày, kích thước (7.25x0.1)m, vết cày nằm trên làn đường xe cơ giới và làn đường hỗn hợp theo hướng Ninh Thuận đi Đồng Nai, vết cày đứt quãng, không liên tục, vết cày dài 7.25m, nơi rộng nhất của vết cày là 0.01m, đo từ vết cày vào mép đường chuẩn là 7.3m, cuối vết cày trùng với gác chân trước bên phải của xe mô tô BKS 86B5 – 153.98 số (4), đo từ cuối vết cày vào mép đường chuẩn là 12.4m, đo từ đầu vết cày đến trục bánh trước của xe mô tô BKS 86B5 – 153.98 (4) là 6.45m.

- Đánh dấu số (4) tại hiện trường là xe mô tô BKS 86B5 - 153.98, sau tai nạn xe ngã về bên phải nằm trên lề đất, đầu xe hướng về Đồng Nai, đo từ tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn là 12.3m, đo từ tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 12.5m; đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 đến cột mốc lộ giới Km 1752 + 300 QL1A là 12.8m.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do cơ quan CSĐT Công an huyện H lúc 16 giờ 00 phút ngày 29/8/2024 thì tình trạng xe ô tô tải BKS 92E - 013.05 như sau:

- Cầu thứ nhất bên phải vỏ ngoài, hông ngoài có vết trầy xước cao su hình vạt chéo kích thước (18x24) cm;

- Dí thứ hai sau cầu bên phải vỏ ngoài hông ngoài có vết xước ngang theo đường kính của lốp kích thước (80x74 )cm;

- Dè chắn bùn bánh sau, sau thùng xe, điểm giáp đèn tín hiệu phần ngoài bị tét rách 27cm, đẩy hướng từ trước ra sau 17cm;

- Phần góc sau bên phải của thùng có 01 van xả nước gãy toàn bộ rời khỏi xe, tâm cách đất 1,1m, tâm đo đến đầu trục dí thứ hai bên phải là 2.73m.

- Hông sau bên phải của thanh sắt xi xe bám dính mảnh vỡ kính rải rác kích thước 15x10cm.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do cơ quan CSĐT Công an huyện H lúc 16 giờ 35 phút ngày 29/8/2024 thì tình trạng xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 như sau:

- Xe mô tô kích thước (1.8x0.67x1.06) m, nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu sơn: đỏ - đen; mặt gương chiếu hậu bên trái rời khỏi xe, gọng gương bị đẩy cong từ trước ra sau 1cm, từ trái qua phải 2cm.

- Đầu tay lái bên phải bị mài mòn kim loại kích thước (1x1)cm, bám dính đất kích thước (6x3)cm.

- Đầu xe bên phải có vết trầy xước sơn kích thước (24x6)cm.

- Bửng chắn gió bên phải từ trên xuống tới bậc để chân bị móp méo biến dạng kích thước (94x50)cm.

- Ốc cố định két nước bên phải bị lệch khỏi vị trí ban đầu đẩy lùi về sau 2cm. Ốp nhựa cách nhiệt trên pô xả động cơ bị vỡ kích thước (33x14)cm.

- Bánh sau bị đẩy lùi từ trước ra sau 2cm, lệch từ phải qua trái 9cm.

Tại bản kết luận giám định số 1134/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

Dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS 92E - 013.05 và xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 như sau:

- Dấu vết va chạm trên xe ô tô BKS 92E - 013.05: trượt xước, rách cao su, mất chất màu đen, bám dính chất màu xám mặt ngoài lốp bánh xe ngoài, trục hai bên phải, chiều từ trước ra sau, từ phải qua trái; trượt xước, rách cao su, mất chất màu đen, bám dính chất màu xám mặt ngoài lốp bánh xe ngoài, trục ba bên phải, chiều từ trước ra sau, từ phải qua trái phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô BKS 86B5 - 153.98: trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen mặt trước đầu đinh ốc cố định trục bánh xe trước, bên phải, chiều từ trước ra sau; trượt xước, mất chất màu xám, bám dính chất màu đen mặt ngoài phần dưới giảm xóc trước, bên phải, chiều từ trước ra sau; gãy vỡ nhựa, cong vênh kim loại, mất chất màu xám, bám dính chất màu đen bệ để chân trước, bên phải, chiều từ trước ra sau.

- Căn cứ hồ sơ gửi giám định, tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô BKS 92E - 013.05 có chiều hướng chuyển động trên đường Q, theo hướng Ninh Thuận đi Đồng Nai, chuyển hướng từ phần đường bên phải qua phần đường bên trái; xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 có chiều hướng chuyển động theo hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận. Chiều hướng va chạm của xe ô tô BKS 92E - 013.05 là từ trước ra sau, từ phải qua trái; chiều hướng va chạm của xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 là từ trước ra sau.

- Căn cứ vào các dấu vết, vật chứng để lại trong hồ sơ gửi giám định thì vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS 92E - 013.05 và xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 ở làn đường hỗn hợp (làn đường rộng 3,5m), phần đường bên phải, đường Q, theo hướng Đồng Nai đi Ninh Thuận.

Tại bản kết luận giám định số 1135/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận tình trạng an toàn kỹ thuật xe ô tô BKS 92E – 013.05 như sau:

Hệ thống lái; hệ thống phanh chính và phanh đỗ; đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước và phía sau bên phải và bên trái, đồng hồ báo hiệu, còi; các hệ thống: động cơ, treo, ly hợp, hộp số, truyền lực các đăng, vì sai, bán trục, bàn đạp ga, cần số, gạt nước của xe ô tô BKS 92E - 013.05 được lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng, hoạt động bình thường.

Tại bản kết luận giám định số 1136/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận tình trạng an toàn kỹ thuật xe mô tô BKS 86B5 – 153.98 như sau:

Hệ thống phanh bánh sau và bánh trước; hệ thống lái; các đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu; được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 181/KLGĐTT-TTGĐYKPYBT ngày 02/10/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của Hà Văn H3: Chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong.

Tại Công văn số 1475/BVBT-KHTH ngày 29/8/2024 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B về việc cung cấp kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của bệnh nhân Hà Văn H3 xác định: Nồng độ cồn trong máu của Hà Văn H3 là 265.9 mg/100 ml.

Tại Kết luận giám định độc chất số MST 1212/KLGĐĐC-TTPY.2024 ngày 23/9/2024 của Trung tâm pháp y xác định: Trong máu của ông H3 có caffein (chất kích thích thần kinh trung ương yếu; L (Thuốc gây tê chống loạn nhịp tim nhóm 1B); N1 (Thuốc giảm đau, hạ sốt).

Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, Bùi Thái H đã bồi thường cho gia đình bị hại ông Hà Văn H3 tổng số tiền 100.000.000 đồng. Tại phiên toà, ông Hà Văn C và bà Lưu Thị N yêu cầu chủ xe phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho con của ông Hà Văn H3 mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Vật chứng của vụ án: Xe ô tô BKS 92E - 013.05 đã trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên D; Xe mô tô BKS 86B5 - 153.98 đã trả lại ông Hà Văn C, đại diện hợp pháp của bị hại Hà Văn H3; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] (Bản gốc) do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 20/06/2022 mang tên Bùi Thái H chuyển kèm theo hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân để quản lý, chờ xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thái H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thái H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 31/3/2025).

Giao bị cáo Bùi Thái H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người bị phạt tù được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng: Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 147, 357, 468, 584, 585, 591, 593, 601 Bộ luật Dân sự; Điều 69, 71, 107 Luật Hôn nhân và gia đình.

Buộc Công ty TNHH Một thành viên D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng kể từ ngày 30/8/2024 cho đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Phương thức cấp dưỡng như sau:

  • + Từ ngày 30/8/2024 đến ngày 30/3/2025, Công ty TNHH Một thành viên D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 số tiền 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng), thực hiện theo phương thức cấp dưỡng một lần.
  • + Từ ngày tiếp theo của ngày 30/3/2025 cho đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, Công ty TNHH Một thành viên D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng theo phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Việc thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyết định liên quan đến bồi thường thiệt hại về tính mạng, cấp dưỡng được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị theo quy định tại Điều 482 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nộp án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Về kháng cáo: Ngày 31/3/2025, bị đơn dân sự Công ty D kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự Công ty TNHH MTV D; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn dân sự Công ty TNHH MTV D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị đơn dân sự làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt mà Tòa sơ thẩm đã tuyên xử đối với bị cáo. Các đương sự thừa nhận việc Tòa án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Bùi Thái H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Qua đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Bùi Thái H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng là có căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cân nhắc trong vụ án có phần lỗi của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn dân sự Công ty TNHH MTV D về phần bồi thường dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị đơn dân sự là Công ty TNHH MTV D kháng cáo, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tính toán lại phần trách nhiệm dân sự liên quan đến bồi thường thiệt hại trong vụ án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu cấp dưỡng của phía đại diện bị hại. Lý do: Bị hại có một phần lỗi nên Công ty chỉ bồi thường 20% thiệt hại; bị cáo đã hỗ trợ, bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, gia đình bị hại cam kết nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự; nay lại yêu cầu bồi thường chi phí cấp dưỡng là không đúng, bởi đối với tiền học phí từ ngày 01/9/2025 sẽ miễn học phí cho học sinh từ mẫu giáo đến trung học phổ thông. Các chi phí khác liên quan đến vấn đề học tập, đưa đón...chưa cung cấp hóa đơn cụ thể nên Công ty TNHH MTV D không đồng ý bồi thường tiền cấp dưỡng nuôi con cho bị hại.

[3.1] Xét thấy, tại phiên toà sơ thẩm, đại diện bị hại là ông Hà Văn C và bà Lưu Thị N (cha mẹ của ông H3) yêu cầu chủ xe phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho con của ông Hà Văn H3 mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Hà Gia B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc Công ty TNHH MTV D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 số tiền 1.500.000 đồng/tháng kể từ ngày 30/8/2024 cho đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, là có căn cứ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 147, 584, 585, 591, 593, 601 Bộ luật Dân sự; Điều 69, 71, 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Điều 2, 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Bởi lẽ, đây là vụ án do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là Công ty TNHH MTV D; Theo Hợp đồng lao động ngày 01/01/2024 có thời hạn 01 năm bị cáo là người lái xe thuê cho công ty đã gây tai nạn, hậu quả làm ông Hà Văn H3 bị thương nặng dẫn đến tử vong. Do ông H3 và vợ đã ly hôn, ông H3 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Gia B1 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 94 ngày 19/9/2016. Vì vậy, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu Công ty TNHH MTV D có trách nhiệm bồi thường chi phí cấp dưỡng cho cháu B1 là phù hợp Điều 591 và Điều 593 Bộ luật Dân sự.

[3.2] Về mức cấp dưỡng: Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày chi phí hàng tháng để nuôi cháu B1 là 4.300.000 đồng bao gồm: chi phí học thêm 400.000 đồng/tháng; học phí 1.400.000 đồng/năm học; ăn uống 2.500.000 đồng/tháng; các chi phí khác như đồ dùng học tập, quỹ lớp, áo quần 700.000 đồng/tháng; chi phí đưa đón cháu đi học 600.000 đồng/tháng do ông bà lớn tuổi không thể đưa đón hàng ngày. Nay yêu cầu bị đơn dân sự là Công ty TNHH MTV D hỗ trợ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 với mức 2.000.000 đồng/tháng.

Đối với mức chi phí hàng tháng để nuôi cháu Hà Gia B1 là 4.300.000 đồng mà đại diện hợp pháp của bị hại đưa ra là mức chi phí nuôi dưỡng một đứa trẻ trung bình của địa phương. Các chi phí nuôi dưỡng này là các nhu cầu thiết yếu nên không cần phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ mới được xem xét chấp nhận.

Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung của cha, mẹ bằng ½ tổng số chi phí hàng tháng; xem xét bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn nên buộc chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là Công ty TNHH MTV D có trách nhiệm bồi thường chi phí cấp dưỡng cho cháu B1 70% của số tiền 2.150.000 đồng (tương đương 2/3), làm tròn 1.500.000 đồng/tháng từ khi ông H3 chết cho đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Mặt khác, phía gia đình bị hại chỉ yêu cầu chủ xe ô tô gây tại nạn bồi thường chi phí cấp dưỡng nuôi con của bị hại, không yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác là có lợi cho bị đơn dân sự Công ty TNHH MTV D1.

[3.3] Trong quá trình cơ quan điều tra thụ lý điều tra vụ án, bị cáo có tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 100.000.000 đồng để đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại cho bị cáo. Việc gia đình bị hại nhận tiền bồi thường từ bị cáo là thỏa thuận tự nguyện bồi thường dân sự giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại không liên quan đến trách nhiệm bồi thường của chủ phương tiện, không loại trừ trách nhiệm bồi thường dân sự của chủ phương tiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu tính lại các chi phí bồi thường dân sự và xác định số tiền trên là tiền của bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại.

Do đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu chủ phương tiện phải bồi thường dân sự các khoản chi phí khác mà chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, vì vậy Tòa án chỉ xem xét, đánh giá về mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con có phù hợp hay không là có căn cứ.

[3.4] Từ những căn cứ trên, xét thấy Bị đơn dân sự (Công ty TNHH MTV D) kháng cáo đề nghị bác toàn bộ yêu cầu bồi thường cấp dưỡng nuôi con của đại diện hợp pháp của bị hại là không có căn cứ nên cân giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Công ty TNHH MTV D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật do kháng cáo phần bồi thường dân sự của Công ty không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự Công ty TNHH Một thành viên D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

1. Áp dụng: Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 147, 357, 468, 584, 585, 591, 593, 601 Bộ luật Dân sự; Điều 69, 71, 107 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Công ty TNHH Một thành viên D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 – sinh ngày 02/4/2010 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng kể từ ngày 30/8/2024 cho đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Phương thức cấp dưỡng như sau:

  • + Từ ngày 30/8/2024 đến ngày 30/3/2025, Công ty TNHH Một thành viên D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 số tiền 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng), thực hiện theo phương thức cấp dưỡng một lần.
  • + Từ ngày tiếp theo của ngày 30/3/2025 cho đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, Công ty TNHH Một thành viên D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1 số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng theo phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Việc thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyết định liên quan đến bồi thường thiệt hại về tính mạng, cấp dưỡng được thi hành ngay.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 2 Điều 23; điểm a khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Công ty TNHH Một thành viên D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (Ngày 23 tháng 6 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân;
  • - TAND huyện Hàm Tân;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Minh Tuấn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Lê Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (phúc thẩm)

  • Số bản án: 97/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger