|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/HS-PT
Ngày: 09-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phan Vĩnh Chuyển |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Trọng Danh |
| Bà Đỗ Thị Thúy Năng |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2025/TLPT-HS ngày 09-5-2025 đối với bị cáo Lê Hoàng P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Họ và tên: Lê Hoàng P. Tên gọi khác: không; sinh ngày: 20/4/1984, tại Quảng Nam. Nơi thường trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú hiện tại: Số F đường P, tổ A, phường H (cũ), nay là phường T (mới), quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; thẻ CCCC: 049084007533; con ông: L (C) và bà Trần Thị M (còn sống); có vợ Nguyễn Thị Ngọc D và có 02 con, (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án; tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Võ Văn S và Trần Minh T đã nhiều lần cùng nhau phân công, bàn bạc thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của người dân trên địa bàn quận C và quận T, thành phố Đà Nẵng đem bán lấy tiền tiêu xài. Trong đó, S là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp còn T có nhiệm vụ tìm người tiêu thụ và phân chia lại thu lợi bất chính với S. Quá trình điều tra, làm rõ hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 05/10/2023, S điều khiển xe mô tô hiệu Wave Fusaco màu xanh biển kiểm soát 43S1- 2798 đi ngang dãy trọ số A đường C, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng thì thấy bên trong dãy trọ có nhiều xe mô tô. S đem xe của mình đến gửi tại bãi giữ xe của chợ T2 rồi đi bộ quay lại dãy trọ trên. Sau khi quan sát thấy không có người, S tiếp cận xe mô tô hiệu Sirius màu đen bạc gắn biển kiểm soát 92D1-947.01 trị giá 21.560.000 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng) của bà Dương Thị Minh S1 rồi dắt xe ra khỏi dãy trọ đem về nhà tại số A Đ cất giấu.
Sau khi lấy được xe, S tháo biển số 92D1-947.01 vứt bỏ, thay ổ khoá mới rồi thông qua mạng xã hội Facebook đặt mua của người không rõ lai lịch biển số 59H1- 21791 để lắp vào xe. S sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội và bị Cơ quan điều tra thu giữ.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 07/5/2024, S tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen gắn biển kiểm soát 59H1-217.91 (xe S lấy của bà S1 nêu trên) đi đến dãy nhà trọ tại 4 đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 92L1-274.44 trị giá 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng) của ông Nguyễn Tuấn K đang dựng trong dãy trọ không người trông giữ. S về nhà lấy công cụ là tuýp sắt chữ L hình lục giác dài 8mm, gắn đầu mũi nhọn bằng sắt, rồi một mình đi bộ quay lại dãy trọ phá khóa, điều khiển xe của anh K đến cất giấu tại nhà giữ xe của Bến xe Trung tâm Đ. Đến ngày 09/5/2024. S đem xe bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000đồng (Hai triệu đồng). Hiện xe không thu hồi được.
Lần thứ ba: Đầu tháng 5/2024. Trần Minh T đặt vấn đề với S về việc T sẽ môi giới, tìm người mua lại các xe mô tô do S phạm tội mà có thì S đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 10/5/2024, sang đến dãy trọ tại nhà số G đường P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng dùng công cụ tuýp sắt chữ L đã chuẩn bị sẵn phá khoá, khởi động xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 81B2-764.80 trị giá 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng) của bà Hồ Ngọc Bảo Q.
Sau khi trộm cắp được xe, S điều khiển đến khu vực gần chung cư T thuộc quận T để gặp T. Tại đây, T điện thoại cho Lê Hoàng P đến để mua xe. Lúc này, P biết rõ xe do T và S trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) để làm phương tiện đi lại. T lấy 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) tiền công môi giới và đưa cho S 2.500.000 đồng.
Trong quá trình P sử dụng xe thì T đã thay biển số 82H1-6894 vào xe này và đem cất giấu biển số 81B2-764.80 để tránh bị phát hiện.
Lần thứ tư: Khoảng 18 giờ ngày 16/9/2014, Võ Văn S đến nhà số I đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng dùng bộ tuýp sắt chữ L có đầu mũi nhọn hình lục giác mở khoá, lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 42E1 406.92 trị giá 10.222.000 đồng (Mười triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng) của bà Huỳnh Thị Thanh H. S điều khiển xe đi đến chung cư T gặp T và T điều khiển xe mô tô hiệu Dream biển kiểm soát 43DA- 049.15 dẫn S mang theo xe trộm cắp đến khu vực công trình cuối đường N, thành phố Đà Nẵng để bán cho người đàn ông tên S2 (không rõ lai lịch) với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), chiếc xe hiện không thu hồi được.
Lần thứ năm: Khoảng 18 giờ ngày 19/9/2024, S đến dãy trọ số từ T T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng dắt trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 76C1-667.53 trị giá 14.130.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm ba mươi ngàn đồng) của bà Nguyễn Nguyên Như Q1 đang dựng tại đây. S thuê một người xe ôm (không rõ lai lịch) đẩy S và xe trộm được đến chung cư T gặp T. Sau khi xem xe, T đồng ý mua lại với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) rồi đem về nhà thay biển số 81B2-764.80 (biển số của xe trộm được ở lần thứ ba) vào, biển số gốc 76C-667.53 thì T cất giấu tại tiệm phế liệu của T.
Toàn bộ số tiền bán xe mô tô, S và T sử dụng tiêu xài và chi dùng cá nhân hết.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm 32/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Võ Văn S, Trần Minh T (nhưng các bị cáo này không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị), về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 09/4/2025, bị cáo Lê Hoàng P có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có điều kiện làm ăn lo cho gia đình, vợ, con.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, trình bày về điều kiện hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, phạm tội lần đầu thuộc hợp ít nghiêm trọng, xin HĐXX cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương, để có điều kiện làm ăn lo cho gia đình, vợ, con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên đảm bảo thủ tục theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như phúc thẩm bị cáo Lê Hoàng P thừa nhận ngày 10/5/2024, thông qua môi giới của Trần Minh T, bị cáo có mua của Võ Văn S 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS số: 81B2-764.80 có giá trị 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng), xe do S trộm cắp mà có với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) với mục đích sử dụng làm phương tiện đi lại. Do đó Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét thấy, khi quyết định hình phạt tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng và xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố là phù hợp, không nặng. Bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết nào mới. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Hoàng P khai nhận thông qua môi giới của Trần Minh T, ngày 10/5/2024 bị cáo có mua của Võ Văn S 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS số: 81B2-764.80 có giá trị 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng), xe do S trộm cắp mà có với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) với mục đích sử dụng làm phương tiện đi lại; sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo giao nộp lại tài sản cho cơ quan công an trả lại cho chủ sở hữu. Vì vậy, bị cáo thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 02/4/2025, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục là nghiêm khắc, bị cáo xin HĐXX cấp phúc thẩm mở lượng khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương, làm ăn chăm lo cho gia đình.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại an toàn cộng đồng, trật tự công cộng, tạo điều kiện cho người khác đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử bị cáo nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết bởi lẽ, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính đang nuôi hai con còn nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, việc không bắt bị cáo đi chấp hình phạt tù, cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung tình tiết có cha vợ ông Nguyễn Văn Q2 là bộ đội xuất ngũ, có đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn (được chính quyền địa phương xác nhận) và đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó thể hiện sự ăn năn hối cải, đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, theo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, cấp phúc thẩm bổ sung khi quyết định hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022. Vì vậy, HĐXX cấp phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà nghĩ nên mở cho bị cáo một con đường học tập, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng răn đe bị cáo, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo được lao động làm ăn lương thiện lo cho gia đình, nuôi các con ăn học, là thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS là cũng phù hợp.
[3] Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, tiếp tục quy trữ đảm bảo thi hành án phí HSST.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng P; Sửa Bản án sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 323 BLHS; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P: 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 09/6/2025.
T1 giao bị cáo Lê Hoàng P về Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
II. Tiếp tục quy trữ tạm giữ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo BL thu tiền số: 0002411 ngày 02/6/2025 để đảm bảo thi hành án phí HSST.
III. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Hoàng P không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
IV. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 97/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 97/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Phong
