|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 5 – 2025 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Bà Trần Thị Thu Hiền |
| - Hội thẩm nhân dân: | Ông Bùi Văn Hồng |
| Ông Nguyễn Tất Thể | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. |
| Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: | Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên. |
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Xuân N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Lê Kiều A, sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Cộng hòa S. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án anh Trần Xuân N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Xuân N và chị Lê Kiều A đăng ký kết hôn ngày 28/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mỗi người một nơi nên thiếu tin tưởng, quan tâm lẫn nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Đến năm 2023, chị Kiều A đi lao động tại Cộng hòa Séc đến nay chưa về nước. Hiện tại hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, anh N xác định không còn tình cảm với chị Kiều A nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Kiều A.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh N trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị Kiều A tại Cộng hòa S và đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của chị Kiều A qua gia đình chị.
Tòa án đã tiến hành xác minh thông qua mẹ đẻ của chị Kiều A, tại biên bản ghi nhận sự việc thông qua việc gọi điện (ghi âm, ghi hình) qua tài khoản mạng xã hội với chị Lê Kiều A do người thân cung cấp, có sự chứng kiến của bà Phạm Thị H (mẹ đẻ của chị Kiều A), chị Kiều A trình bày:
Về thời điểm, điều kiện kết hôn, quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng như anh N khai là đúng. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn có tiếng nói chung. Chị Kiều A cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, nay anh N yêu cầu ly hôn thì chị đồng ý. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị Lê Kiều A cho biết hiện nay chị đang lao động tại Cộng hòa S, chị không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị tại Cộng hòa S và do tính chất công việc đi lại khó khăn nên chị không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án. Vì vậy, chị Kiều A đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị và ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Phạm Thị H (mẹ đẻ của chị Kiều A), địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51, 56, 57, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Xuân N
- Về hôn nhân: Cho anh Trần Xuân N được ly hôn chị Lê Kiều A.
- Về con chung: Không có con chung nên miễn xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Anh Trần Xuân N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Kiều A đang sống và làm việc tại Cộng hòa S, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành xác minh thông qua gia đình của chị Kiều A. Theo văn bản số 161/QLXNC- Đ1 ngày 20/02/2025 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì chị Lê Kiều A đã xuất cảnh lần cuối ngày 04/10/2023, hiện không có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy ngày 14/02/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tòa án đã tiến hành xác minh, ghi nhận ý kiến và yêu cầu chị Lê Kiều A cung cấp địa chỉ cụ thể của chị Kiều A tại nước ngoài, tuy nhiên chị không cung cấp. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các vụ án có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài thì đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết anh N có mặt nhưng vì lý do công việc đi làm ăn xa nên không thể tham gia phiên tòa được và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh N và chị Kiều A theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Trần Xuân N và chị Lê Kiều A đăng ký kết hôn ngày 28/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Việc kết hôn giữa anh N và chị Kiều A thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng đến năm 2022, tình cảm vợ chồng bắt đầu rạn nứt, không còn hoà hợp, không còn tiếng nói chung. Vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Hiện tại, anh N nhận thấy không còn tình cảm với chị Kiều A, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Chị Kiều A cũng thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trở nên trầm trọng nên anh N xin ly hôn thì chị Kiều A đồng ý.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa anh Trần Xuân N và chị Lê Kiều A không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Xuân N.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh N và chị Kiều A không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Anh Trần Xuân N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Xuân N
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Xuân N ly hôn chị Lê Kiều A.
- Về án phí: Anh Trần Xuân N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh N đã nộp tại Giấy thu tiền số [...] ngày 14/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Trần Xuân N yêu cầu ly hôn với chị Lê Kiều A
