Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 11 năm 2025
(V/v: Tranh chấp HNGĐ)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Đại Đồng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2025/TLST – HNGĐ ngày 15/10/2025, về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 13/11/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 01/10/1991 (vắng mặt)

Nơi ĐKTT: thôn M, xã Ứ, TP .; Số CCCD: [...]

Hiện đang sinh sống và làm việc tại Úc (14 Egmont S -V, Úc)

Chị H ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc T – sinh năm 1993, ông Trần Thanh M – sinh năm 1988 và bà Trịnh Thị L – sinh năm 2001, đều có địa chỉ: Số H, Đường N, phường T, thành phố Hải Phòng nộp đơn khởi kiện, giao nhận văn bản tố tụng... (Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2025 được xác nhận bởi Đại quán Việt Nam tại Úc).

* Bị đơn: Anh Vũ Xuân H1, sinh ngày 17/01/1988 (có đơn xin vắng mặt)

Nơi ĐKTT: thôn M, xã Ứ, TP .; SỐ CCCD: [...]

Anh H1 hiện đang chấp hành án tại Trại giam N, tỉnh Ninh Bình.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1958; SỐ CCCD [...]

Nơi ĐKTT: thôn T, xã Ứ, TP . (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và các văn bản khác - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Xuân H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Ứ, TP . (nay là xã Ứ, TP .) vào ngày 16/8/2011. Sau khi kết hôn cuộc sống của vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc, càng về sau thì càng mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, việc chi tiêu trong gia đình, việc chăm sóc con cái... đã vậy, anh H1 còn không chịu làm ăn. Ngày 11/11/2020, anh H1 bị bắt và sau đó bị xét xử về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; hiện đang chấp hành án tại Trại giam N, tỉnh Ninh Bình. Đến năm 2023, chị sang Úc xuất khẩu lao động. Do mâu thuẫn trước đó và cuộc sống xa cách nên vợ chồng khồng còn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau nữa, mặc dù gia đình cũng đã hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn đối với anh H1.

Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Bích D, sinh ngày 23/02/2014 và Vũ Gia K1, sinh ngày 02/11/2021. Sau khi anh H1 bị bắt thì chị và 02 cháu ở với bà ngoại (Nguyễn Thị K); từ khi chị đi xuất khẩu lao động thì cả hai cháu vẫn tiếp tục ở với bà ngoại cho đến nay. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Do hiện nay chị vẫn đang lao động ở bên Úc nên chị đề nghị Tòa tạm giao hai cháu cho bà K tiếp tục chăm sóc cho đến khi chị về nước.

Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị H xác nhận đều không có gì nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí theo qui định.

* Bị đơn: Anh Vũ Xuân H1 do đang chấp hành án tại Trại giam N, tỉnh Ninh Bình; anh H1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa về việc giải quyết vụ án nhưng đề nghị Tòa án gặp trực tiếp để anh trình bày quan điểm. Ngày 13/11/2025, tại Trại giam N, anh H1 thừa nhận việc tự nguyên kết hôn, việc đăng ký kết hôn, cuộc sống hạnh phúc thời gian đầu sau sau kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như chị H trình bày là đúng; anh H1 cũng thừa nhận do mâu thuẫn nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2019; bản thân anh do ham chơi nên năm 2020 đã có hành vi phạm tội và hiện đang phải chấp hành án nên không chăm lo được cho vợ con. Nay chị H xin ly hôn thì anh đồng ý vì anh cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Về con chung, anh H1 thừa nhận vợ chồng có 02 con chung và việc các cháu hiện đang ở với bà ngoại như chị H trình bày là đúng. Ly hôn anh đồng ý giao cả hai con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con anh cũng nhất trí như ý kiến của chị H; đồng thời, do hiện nay chị H đang ở nước ngoài, anh thì đang chấp hành án nên anh cũng đồng ý tạm giao cả 02 con cho bà ngoại trông nom, chăm sóc giúp. Sau này, khi anh chấp hành án xong trở về thì sẽ xem xét việc thay đổi nuôi con. Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng anh H1 cũng xác nhận đều không có gì nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị K là mẹ đẻ chị H trình bày: Chị Nguyễn Thị Thu H là con gái bà, anh Vũ Xuân H1 là con rể bà. Anh H1 và chị H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình anh H1 một thời gian rồi về ở cùng bà. Khi đẻ cháu lớn thì cho về nhà nội, sau khi đầy tháng cháu thì vợ chồng và cháu lại xuống nhà bà ở. Vợ chồng ở nhà bà được vài năm thì ra Hà Nội thuê nhà làm ăn thì bà lại ra trông cháu lớn rồi đến cháu thứ hai. Đến khi cháu lớn đến tuổi đi học thì cho về quê ở với bà và đi học, cháu thứ hai đến tuổi đi học lại cho về quê ở với bà để đi học. Thời gian đó cuộc sống vợ chồng Hiền H2 bình thường, H2 đi lái xe, H đi làm. Đến năm 2020 do H2 chơi bời nên bị bắt và bị xử phạt 08 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Lúc này, H về quê chăm con. Đến năm 2023 do kinh tế khó khăn nên H đi xuất khẩu lao động, H2 thì đang chấp hành án, mẹ đẻ H2 cũng vào miền N trông cháu nên H lại nhờ bà chăm sóc các cháu để H đi nước ngoài lao động tăng thu nhập thì bà cũng đồng ý, các cháu cũng đồng ý; khi thăm gặp H2 cũng nhờ bà chăm sóc các cháu. Hiện nay các cháu đang ở với bà rất ổn định, được chăm sóc đầy đủ về mọi mặt; hàng tháng H vẫn gửi tiền về nuôi con, hàng ngày H vẫn gọi điện và cho bà và các con. Nay vợ chồng anh chị ly hôn là quền của anh chị, còn việc H nhờ bà tiếp tục chăm sóc con thì bà nhất trí. Do tuổi cao nên bà xin được vắng mặt khi tòa giải quyết vụ án.

* Tại đơn trình bày nguyện vọng của con: Cháu Vũ Bích D và cháu Vũ Gia K1 là con chung của chị H và anh H2 đều xác nhận việc hiện nay các cháu ở với bà ngoại rất tốt, các cháu đều có nguyện vọng xin ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn và xin được tiếp tục ở với bà ngoại cho đến khi mẹ về nước để ổn định cuộc sống và việc học tập.

Tại phiên tòa:

- Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Vũ Xuân H1 đều vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Người đại diện theo ủy quyền của chị H về việc tranh chấp nuôi con có đơn trình bày quan điểm và xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội có quan điểm:

+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và người đại diện theo ủy quyền của đương sự, lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự sau khi thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Xét lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến nay vợ chồng đã có thời gian dài sống ly thân, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Về việc nuôi con: Chị H xin được nuôi cả hai con, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng và đề nghị giao cho bà Nguyễn Thị K là bà ngoại của các cháu tiếp tục chăm sóc các cháu cho đến khi chị về nước là phù hợp thực tế về mọi mặt, phù hợp nguyện vọng của các con, bà K và anh H1 cũng đồng ý nên cần chấp nhận. Về tài sản, công sức và nợ chung: chị H và anh H1 đều xác nhận không có gì nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu H có hộ khẩu thường trú tại xã Ứ, TP .. Chị H đang lao động tại Úc làm đơn xin ly hôn đối với anh Vũ Xuân H1 đang chấp hành án tại Trại Giam N - tỉnh Ninh Bình nhưng anh H1 vẫn có hộ khẩu thường trú tại xã Ứ, TP .. Việc ủy quyền, việc từ chối hòa giải, xin xét xử vắng mặt và các tài liệu giao nộp kèm theo đơn khởi kiện của chị H đều được Đ tại Úc xác nhận; người nhận ủy quyền đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn thay chị H. Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền theo qui định của BLTTDS và qui định tại Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi BLTTDS. Anh H1 đã có lời khai, quan điểm đề nghị cụ thể về việc giải quyết vụ án và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bà Nguyễn Thị K là mẹ đẻ chị H là người đang trực tiếp chăm sóc con của anh H1 và chị H cũng có lời khai, quan điểm đề nghị cụ thể và xin vắng mặt khi tòa xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hôn nhân: Chị H và anh H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc; tuy nhiên, từ năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ngày càng căng thẳng do bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng ly thân từ 2019. Đến năm 2020 anh H1 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và phải chấp hành án phạt 08 năm tù; chị H đi xuất khẩu lao động từ năm 2023. Do xa cách và mâu thuẫn từ trước nên tình cảm vợ chồng dạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, các bên không còn thương yêu, quan tâm đến nhau. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn để ổn định cuộc sống anh H1 cũng thừa nhận và đồng ý ly hôn. Xét đời sống, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được; vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh H1 là phù hợp với qui định của pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: chị H và anh H1 có 02 con chung là Vũ Bích D, sinh ngày 23/02/2014 và Vũ Gia K1, sinh ngày 02/11/2021. Từ khi vợ chồng ly thân cả hai cháu đều ở với chị H và bà K; từ khi chịu H đi xuất khẩu lao động (2023) đến nay cả hai cháu vẫn ở với bà K. Việc chị H xin nuôi cả hai con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng; đồng thời, đề nghị Tòa giao cho bà K tiếp tục chăm sóc các cháu cho đến khi chị về nước là chính đáng, phù hợp thực tế về mọi mặt, phù hợp ý kiến, nguyện vọng của các con; bà K và anh H1 cũng đồng ý nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản, công sức và công nợ chung: Chị H và anh H1 đều xác nhận đều không có gì nên HĐXX không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí; nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với qui định của pháp luật, phù hợp quan điểm của HĐXX.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Hiền

Xử: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Vũ Xuân H1.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thu H chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Bích D, sinh ngày 23/02/2014 và Vũ Gia K1, sinh ngày 02/11/2021 cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có đề nghị, thay đổi khác; Do chị H đang lao động xuất khẩu ở nước ngoài nên tạm giao cháu D và cháu K1 cho Bà Nguyễn Thị K (mẹ đẻ chị H) tiếp tục trông nom, chăm sóc hai cháu cho đến khi chị H về nước hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H1 cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Không ai được ngăn cản việc thăm hỏi con chung.

Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012027 ngày 15/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Hà Nội. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án. Anh Vũ Xuân H1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận :

  • - VKSND cùng cấp;
  • - Phòng THADS KV12 – Hà Nội;
  • - UBND xã Ứng Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đình Kiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger