Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/06/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Danh Thùy

2. Ông Nguyễn Văn Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 06 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Thiên Đ năm 1990; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Luân Thị H năm 1986; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố P, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Thiên Đ1 trình bày:

Anh Hoàng Thiên Đ1 và chị Luân Thị H1 kết hôn năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu và tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, anh Đ2 chị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cao Bằng ngày 13/9/2021.

Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và chị H14 quan hệ ngoài hôn nhân. Quá trình mâu thuẫn có xảy ra cãi vã tuy nhiên không xảy ra xô sát, đánh đập. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên và bản thân hai vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn chị Luân Thị H2

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng G H1, sinh ngày 30/9/2021, giới tính: nam. Khi ly hôn, anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng G H1 đến khi thành niên và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: anh Đ xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 13/6/2025 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Luân Thị H1 trình bày:

Chị H3 anh Đ3 hôn năm 2021, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cao Bằng Khi cưới cả hai làm việc tự do.

Sau khi kết hôn, khoảng giữa năm 2024 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn do anh Đ4 tình, chị H4 khuyên anh Đ5 lần nhưng anh H5 nghe nên chị H4 bỏ về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân, thỉnh thoảng chị H6 về thăm con, nay chị H7 định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn anh Đ

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng G H1, sinh năm 2021, hiện nay con đang ở với anh ĐKhi ly hôn, chị Hnhất T với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản xác minh ngày 12/6/2024, bà Lê Thị H8 tổ trưởng tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằngcho biết: Chị Luân Thị H1 và anh H3Thiên Đó là vợ chồng, có đăng ký thường trú tại A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Thời gian vợ chồng chung sống tại tổ không có thông tin gì về việc mâu thuẫn của vợ chồng Đ– HChị Hđã không còn cư trú tại địa phương từ giữa năm 2025 đến nay. Sau khi đi khỏi địa phương, tổ dân phố ít khi thấy chị H9 lại thăm nom chồng con.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn bảo lưu yêu cầu xin ly hôn và xin được nuôi con chung, về mức cấp dưỡng nuôi con nguyên đơn nhất trí với mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng như ý kiến của bị đơn trong bản tự khai nộp Tòa án. Bị đơn được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Thiên Đ1: Cho anh Đ được ly hôn chị Luân Thị H2
  2. Giao con chung là cháu Hoàng G H1sinh ngày 30/9/2021, giới tính: nam cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho con đến khi con thành niên. Chị H14 nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng cho đến khi con chung thành niên.
  3. Về án phí: các bên đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn chị Luân Thị H1 đăng ký thường trú và cư trú tại tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Hoàng Thiên Đ1 và chị Luân Thị H1 kết hôn năm 2021 trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu và tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, anh Đ2 chị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cao Bằng ngày 13/9/2021. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Đ2 chị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo anh Đ7 do bất đồng quan điểm sống và chị H14 quan hệ ngoài hôn nhân, còn theo chị H10 do anh Đ4 tình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn chị Luân Thị H2 Chị H cũng nhất trí ly hôn anh Đ.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Đ2 chị H chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tình cảm yêu thương quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng nên cần cho ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng, anh Đ2 chị H14 01 con chung là cháu Hoàng G H1, sinh ngày 30/9/2021, giới tính: nam, hiện nay cháu H1đang ở với anh Đ

Anh Đ và chị H11 thống nhất giao con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu H12 đủ 18 tuổi. Chị H14 trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy ý kiến của anh Đ2 chị H về con chung hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: A và chị H11 xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: các bên đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thiên Đ1. Xử cho anh H13 Đình được ly hôn chị Luân Thị H2
  • - Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng G H1 (sinh ngày 30/9/2021, giới tính: nam) cho anh H3Thiên Đ6 trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên.

Chị Luân Thị H14 trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đ/tháng (một triệu đồng một tháng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 07 năm 2025 cho đến khi con chung thành niên.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: các bên đương sự đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Thiên Đ1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn để sung vào công quỹ nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh Đ đã nộp theo Biên lai số 0001270 ngày 22/04/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận anh Đ đã nộp đủ án phí.
  • Chị Luân Thị H15 chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con để sung vào công quỹ nhà nước.
  • - Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Anh Hoàng Thiên Đ1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Luân Thị Hvắng M tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Băng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đinh Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger