|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 tháng 11 năm 2025 V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con" |
-------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tân và ông Nguyễn văn Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Mai Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2025/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114 /2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H – Sinh ngày: 14/6/1995
Số căn cước công dân: [...]
Nơi ĐKTT: Thôn H (T), xã Y, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang H1 – Sinh ngày: 19/6/1988
Số căn cước công dân: [...]
Nơi ĐKTT: Thôn H (T), xã Y, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 7 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Ngọc H trình bày:
- Về Hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Quang H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngày 22/9/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cải cọ, chưởi bới, xúc phạm lẫn nhau, anh H1 có tính gia trưởng, vũ phu nhiều lần anh H1 đã dùng vũ lực đối với tôi, anh H1 thường xuyên rượu chè say sỉn làm cho cuộc sống của tôi luôn bất an. Ngoài ra trong quá trình đi làm ăn xa nhà, anh H1 đã có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, chính vì vậy trong cuộc sống vợ chồng thiếu tôn trọng lẫn nhau, tình cảm mất dần và cho đến nay không còn gì nữa.
Đến đầu năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, anh H1 từng cầm kéo đe dọa đâm tôi, xét thấy nếu cứ tiếp tục sống với anh H1 thì bản thân tôi không an toàn đến tính mạng, nên tôi đã phải bỏ nhà đi làm ăn không về nữa. Cũng từ đó vợ chồng chúng tôi đã ly thân, không quan tâm đến nhau. Đến nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên tôi đề nghị được ly hôn đối với anh H1.
- Về con chung: Tôi và anh Nguyễn Quang H1 có 02 con chung là: Nguyễn Bảo N– sinh ngày 16/6/2013 và Nguyễn Quang Chí T – sinh ngày 23/8/2015. Nguyện vọng của tôi về phần con chung là: Tôi đề nghị được nuôi 01 con, tuy nhiên tôi sẽ tôi trọng ý kiến, sự lựa chọn của các con.
- Về tài sản, công nợ: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết, anh Nguyễn Quang H1 là bị đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và chị Nguyễn Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 22/9/2027. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do cuộc sống và tính chất công việc không hợp nhau và sau đó chị H bỏ nhà đi đến nay vợ chồng không quan tâm và liên lạc với nhau nữa. Đến nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đồng ý ly hôn với chị H.
- Về con chung: Tôi và chị H có 02 con chung là: Nguyễn Bảo N – sinh ngày 16/6/2013 và Nguyễn Quang Chí T – sinh ngày 23/8/2015. Nếu tòa án giải quyết cho tôi và chị H được ly hôn, thì tôi có nguyện vọng xin nuôi cả 02 cháu. Tôi yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cho tôi mỗi cháu là 1.500.000đồng/01 tháng.
- Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc H, cụ thể:
+ Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn anh Nguyễn Quang H1.
+ Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Bảo N và Nguyễn Quang Chí T cho anh Nguyễn Quang H1 chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 1.500.000đ/tháng.
+ Về tài sản: Anh chị không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí DSST về việc ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Quang H1 và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Quang H1 vắng mặt tại phiên tòa, cả anh H1 và chị H1 đều có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Quang H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã lẫn nhau. Cả chị H1 và anh H1 đều thừa nhận hiện tại anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 đến nay, ai lo bổn phận người ấy. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn đối với anh Nguyễn Quang H1.
[4] Về con chung: chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Quang H1 thống nhất có 02 con chung là: Nguyễn Bảo N - sinh ngày 16/6/2013 và Nguyễn Quang Chí T - sinh ngày 23/8/2015. Nguyện vọng của cháu N và cháu T xin được ở với bố.
Nguyện vọng của anh H1 xin nuôi cả 02 con và yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con cho tôi mỗi cháu là 1.500.000đồng/01 tháng.
Tại bản tự khai ngày 20/10/2025 chị H1 đồng ý để anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và đồng ý cấp dưỡng nuôi con cùng anh H1 mỗi cháu là 1.500.000đồng/01 tháng
Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự ý kiến của chị H1 và anh H1 về việc nuôi dưỡng con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản: Chị H1 và Anh H1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án, buộc chị Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
[8] Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 15, Điều 51 và khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
- Về Hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc H về việc: Xử cho chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Quang H1 .
- Về con chung: Ghi nhận ý kiến của chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Quang H1 về việc: Giao cho anh Nguyễn Quang H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo N - sinh ngày 16/6/2013 và cháu Nguyễn Quang Chí T - sinh ngày 23/8/2015 ( phù hợp với nguyện vọng của cháu N và cháu T), đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Ngọc H phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Nguyễn Ngọc H là 1.500.000đồng/01 cháu/01 tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/12/2025 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Quang H1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng tiền án dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con; Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, theo biên lai thu tiền số: 0002013 ngày 28 tháng 7 năm 2025.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Quang H1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Ngọc H xin ly hôn anh Nguyễn Quang H và yêu cầu giải quyết việc nuôi con sau ly hôn
