TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 – 6 – 2025 V/v ly hôn, chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Bạn;
- Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Uyên là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 711/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp tài sản chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958; thường trú: 59 (hộ B, lầu 3) Phạm Ngọc T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Bị đơn: Ông Bùi Xuân T1, sinh năm 1956; thường trú: 59 (hộ B, lầu 3) Phạm Ngọc T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 8C đường N khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tập đoàn C; địa chỉ: Lô D Khu đô thị M - Phường Y - Quận C - TP .. Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Kim T2, sinh năm 1983; địa chỉ: B Đại lộ B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Xuân T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bình Trị Thiên (nay là huyện L, tỉnh Quảng Bình) theo giấy kết hôn ngày 20/01/1982. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 20 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Đến năm 2015 vợ chồng mâu thuẫn, ông T1 đuổi bà Đ ra khỏi nhà nên bà đã chuyển đến sống cùng với con trai. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thỉnh thoảng bà có về thăm nhà nhưng xác định cả hai không thể hàn gắn đoàn tụ để chung sống hạnh phúc được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Bùi Thanh B, sinh năm 1985 và Bùi Minh P, sinh năm 1987 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông T1 tạo dựng được các tài sản:
- Quyền sử dụng đất diện tích 120m² và tài sản xây dựng trên đất là căn nhà 04 tầng thuộc thửa 1684, tờ bản đồ 19 (4) tọa lạc tại 8C đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS08938 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018. Bà Đ yêu cầu được nhận tài sản này.
- Quyền sử dụng đất diện tích 120m² và tài sản xây dựng trên đất là căn nhà 04 tầng thuộc thửa 1685, tờ bản đồ 19 (4) tọa lạc tại 9C đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09034 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018. Bà Đ yêu cầu giao tài sản này cho ông T1 quản lý sử dụng, sở hữu.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Căn cước công dân của bà Đ và ông T1, giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của ông Bùi Thanh B và Bùi Minh P; 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Bùi Xuân T1 trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về thời gian, điều kiện tiến đến hôn nhân và về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Ông thừa nhận việc ông và bà Đ quá trình chung sống đã xảy ra mâu thuẫn, trong lúc nóng giận, ông có la mắng bà Đ nặng lời khiến cho vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Bà Đ yêu cầu ly hôn, ông T1 đồng ý.
Về con chung: Có 02 người con chung như nguyên đơn trình bày. Do các con đã trưởng thành nên ông T1 thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T1 thống nhất trong thời kỳ hôn nhân ông bà tạo dựng được 02 tài sản là quyền sử dụng đất, thửa đất 1684 cùng tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS08938 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông T1 ngày 31/8/2018 và thửa 1685 cùng tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09034 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018.
Về kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản ông T1 thống nhất.
Hiện nay ông T1 đang quản lý, sử dụng cả hai tài sản trên và ông đang cho V chi nhánh Tập đoàn C thuê căn nhà số I đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (thửa 1685) với giá 22.000.000 đồng/tháng, hợp đồng thuê nhà vẫn còn thời hạn đến năm 2029.
Căn nhà số H (thửa 1684) đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương hiện nay ông đang quản lý, sử dụng.
Nay bà Đ yêu cầu chia tài sản chung đối với 02 tài sản trên ông không đồng ý chia mà muốn để lại cho các con. Đồng thời ông cho rằng các tài sản trên ông là người có công sức đóng góp nhiều hơn nhưng ông xác định không yêu cầu phản tố mà chỉ muốn trình bày để nguyên đơn được biết.
Về nợ chung: Ông Bùi Xuân T1 trình bày có vay tiền của một số người thân, bạn bè và ngân hàng. Tuy nhiên ông chỉ liệt kê ra để bà Đ biết rằng ông đang có nợ nhưng không yêu cầu đưa họ vào tham gia tố tụng vì khi vay do là chỗ thân quen nên không làm giấy tờ do đó không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung.
Chứng cứ do bị đơn cung cấp: Hợp đồng thuê nhà, phụ lục gia hạn hợp đồng thuê văn phòng.
Quá trình tố tụng, tại bản tự khai, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tập đoàn C là ông Dương Kim T2 trình bày:
Vào năm 2018 V chi nhánh Tập đoàn C1 ký hợp đồng thuê nhà với ông Bùi Xuân T1 và bà Nguyễn Thị Đ. Tài sản thuê: Là quyền sử dụng đất diện tích 120m² và tài sản xây dựng trên đất diện tích xây dựng là 90m², diện tích sàn 376,8m² thuộc thửa 1685, tờ bản đồ 19 (4) tại 9C khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09034 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018. Mục đích thuê: Làm địa điểm kinh doanh. Thời hạn thuê: 03 năm kể từ ngày 01/8/2018 đến ngày 31/7/2021. Giá thuê: 19.000.000 đồng. Phương thức thanh toán: Bên thuê trả tiền thuê 01 lần/1 năm vào ngày 01-15 dương lịch của tháng đầu tiền của kỳ thanh toán. Hợp đồng thuê được công chứng số 11434, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/8/2018 tại Văn phòng C2. Đến năm 2024, hai bên tiến hành ký phụ lục gia hạn hợp đồng thuê văn phòng. Nội dung gia hạn hợp đồng thuê văn phòng từ 01/8/2024 đến ngày 31/7/2029 (05 năm) và giá thuê là 25.556.000 đồng.
Nay bà Đ và ông T1 ly hôn, tranh chấp tài sản chung trong đó có căn nhà số I đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương mà V chi nhánh Tập đoàn C1 Quân Đ1 làm địa điểm kinh doanh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với việc ly hôn giữa ông T1 và bà Đ. Đối với hợp đồng thuê căn nhà nêu trên vẫn đang còn thời hạn đến năm 2029, trường hợp Tòa án giải quyết giao cho một trong các bên đương sự thì họ sẽ thương lượng với chủ sử dụng, sở hữu hợp pháp để tiếp tục được nên không tranh chấp trong vụ án này. Trường hợp sau này có tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ án khác (nếu có), đồng thời xác định không yêu cầu độc lập trong vụ án. Tranh chấp giữa ông T1 và bà Đ để họ tự giải quyết với nhau.
Tài liệu chứng cứ do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giao nộp: Giấy ủy quyền số 469 ngày 27/01/2022 (bản trích nội dung giấy ủy quyền), giấy ủy quyền ngày 26/5/2025, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân do các đương sự thuận tình ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận. Về con chung đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân các đương sự thống nhất trình bày có 02 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền thuộc thửa 1684 và 1685 tờ bản đồ 19 (4), tại đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương cùng tài sản gắn liền với đất. Hiện tại, ông T1 đang quản lý sử dụng và cho thuê. Ông T1 cho rằng ông là người có đóng góp nhiều hơn trong việc tạo dựng các tài sản nêu trên. Tuy nhiên ông không có yêu cầu phản tố, không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày và yêu cầu của mình là có căn cứ. Do đó, nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung đối với 02 tài sản trên và yêu cầu được nhận tài sản là nhà đất thuộc thửa 1684 và giao cho ông T1 thửa 1685 là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện hợp pháp của có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Kim T2 có đơn yêu cầu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T2.
[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện về việc ly hôn, yêu cầu chia tài sản nên quan hệ tranh chấp của vụ án là ly hôn, chia tài sản khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ trong vụ án và lời trình bày của bị đơn thể hiện: Ông Bùi Xuân T1, cư trú tại nhà số H đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Xuân T1 tiến đến hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/01/1982 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bình Trị Thiên (nay là huyện L, tỉnh Quảng Bình) nên quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T1 là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, giữa bà Đ và ông T1 xảy ra mâu thuẫn nên bà Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn, ông T1 thống nhất nên căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Xuân T1.
[4.2] Về con chung: Bà Đ và ông T1 có 02 con chung tên Bùi Thanh B, sinh năm 1985 và Bùi Minh P, sinh năm 1987 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4.3] Về tài sản chung: Bà Đ và ông T1 thống nhất trong thời kỳ hôn nhân, ông bà tạo dựng được tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích 120m² và tài gắn liền với đất là căn nhà có diện tích xây dựng 90m², diện tích sàn 376,8m² thuộc thửa 1684, tờ bản đồ 19 (4) tọa lạc tại 8C đương N2, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS08938 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018; quyền sử dụng đất diện tích 120m² và tài sản gắn liền với đất là căn nhà diện tích xây dựng là 90m², diện tích sàn 376,8m² thuộc thửa 1685, tờ bản đồ 19 (4) tọa lạc tại 9C đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09034 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018. Lời thừa nhận, thống nhất của các đương sự là chứng cứ không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản ngày 19/02/2025 thể hiện:
- Thửa đất 1684, tờ bản đồ 19(4) trên đất có xây dựng 01 căn nhà 04 tầng, kết cấu khung, sàn bê tông cốt thép, tường gạch tô trét, nền lát gạch granite, đơn giá 9.616.000 đồng/m², diện tích xây dựng, 90m², diện tích sản hoặc công suất 376,8m², tỷ lệ sử dụng còn lại 70%, thành tiền 2.536.316.160 đồng. Giá trị đất: 65.000.000 đồng/m2, diện tích 120m², thành tiền: 7.800.000.000 đồng. Tổng giá trị nhà đất thửa 1684 là 10.336.316.160 đồng.
- Thửa đất 1685, tờ bản đồ 19(4) trên đất có xây dựng 01 căn nhà 04 tầng, kết cấu khung, sàn bê tông cốt thép, tường gạch tô trét, nền lát gạch granite, đơn giá 9.616.000 đồng/m², diện tích xây dựng, 90m², diện tích sản hoặc công suất 376,8m², tỷ lệ sử dụng còn lại 70%, thành tiền 2.536.316.160 đồng. Diện tích 120m², giá trị đất: 65.000.000 đồng/m², thành tiền: 7.800.000.000 đồng. Tổng giá trị nhà đất thửa 1685 là 10.336.316.160 đồng.
Xét, 02 tài sản trên đều được các đương sự tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, có giá trị bằng nhau. Bà Đ yêu cầu ly hôn và yêu cầu được chia tài sản để có nơi sinh sống vì hơn 10 năm nay do vợ chồng mâu thuẫn, bà đã chuyển đến sống cùng con cái, bà đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, không có chỗ ở ổn định. Bà Đ2 yêu cầu được nhận tài sản là 01 căn nhà và đất để có nơi sinh sống. Mặt khác, 02 tài sản trên đều đang do ông T1 quản lý sử dụng, cho thuê, thu tiền thuê nhà từ năm 2018 và bà Đường K được sử dụng tiền cho thuê của 02 căn nhà này. Tuy nhiên, bà không yêu cầu xem xét đối với tiền cho thuê nhà. Do ông T1 đang cho V chi nhánh Tập đoàn C1 Độithuê căn nhà 9C thuộc thửa 1685, đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T và trực tiếp thu và sử dụng tiền thuê đối với căn nhà này. Bên thuê không tranh chấp với bà Đ và ông T1 về mặt bằng thuê và thời hạn thuê vẫn còn đến năm 2029. Để đảm bảo cho việc quản lý sử dụng, sở hữu tài sản trên đất cũng như xem xét đến công sức đóng góp, tạo dựng tài sản, quyền lợi ích hợp pháp của các bên. Bà Đ yêu cầu Hội đồng xét xử giao căn nhà 9C thuộc thửa 1685 cho ông T1 quản lý sử dụng, sở hữu và bà yêu cầu được nhận căn nhà còn lại là căn 8C thuộc thửa 1684 đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp Điều 59, 60, 62 và Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh chấp và không yêu cầu độc lập trong vụ án nên không xem xét.
Về nợ chung: Ông Bùi Xuân T1 trình bày trong thời kỳ hôn nhân ông có vay nợ của một số người thân, bạn bè và ngân hàng. Tuy nhiên ông không yêu cầu đưa họ vào tham gia tố tụng, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 5.009.648 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 55, 57, 59, 60, 62 và Điều 64 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Xuân T1 thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Con chung tên Bùi Thanh B, sinh năm 1985 và Bùi Minh P, sinh năm 1987 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về tài sản chung:
2.1. Bà Nguyễn Thị Đ được quyền quản lý, sử dụng thửa đất diện tích 120m² thuộc thửa 1684, tờ bản đồ 19 (4) và sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất là căn nhà 04 tầng kết cấu: Khung, sàn bê tông cốt thép, tường gạch tô trét, nền lát gạch granite, diện tích xây dựng là 90m², diện tích sàn sử dụng 376,8m² tọa lạc tại: H đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS08938 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018. Nhà và đất trị giá 10.336.316.160 đồng.
2.2. Ông Bùi Xuân T1 quyền quản lý, sử dụng thửa đất diện tích 120m² thuộc thửa 1685, tờ bản đồ 19 (4) và sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất là căn nhà 04 tầng kết cấu: Khung, sàn bê tông cốt thép, tường gạch tô trét, nền lát gạch granite diện tích xây dựng là 90m², diện tích sàn sử dụng 376,8m² tọa lạc: 9C đường N, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09034 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Bùi Xuân T1 ngày 31/8/2018. Nhà và đất trị giá 10.336.316.160 đồng.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau theo đúng nội dung nêu trên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Xuân T1 theo quyết định của bản án này.
Bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Xuân T1 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất và tài sản đã được phân chia theo bản án này và thực hiện quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
3. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản 5.009.648 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
5. Về án phí: Ông Bùi Xuân T1 và bà Nguyễn Thị Đ thuộc trường hợp người cao tuổi nên không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 57.000.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002964 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tchia tài sản chung khi ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Đường và ông Bùi Xuân Thạnh
