Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21-11-2025.

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAΙ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xét xử số C - Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 344/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/11/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị D - sinh ngày 30/11/1992. (Có mặt)

Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 24/5/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế Q – sinh ngày 20/3/1987. (Có mặt)

Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 16/4/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi thường trú: Ấp A, xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Tổ G, ấp D, xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, lời khai trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Vũ Thị D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thế Q tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11/12/2014.

1

Trong cuộc sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông Q không lo làm ăn để lo cho cuộc sống gia đình, chơi cờ bạc, bà có khuyên bảo nhiều lần nhưng ông Q không thay đổi dẫn đến vợ chồng hay xảy ra cãi vã nhau thì ông Q bỏ nhà đi 01 tháng đến 02 tháng mới về.

Vợ chồng đã sống ly thân từ 6/2025 đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau, mỗi người có 01 cuộc sống riêng. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V – sinh ngày 16/10/2015 và cháu Nguyễn Thị Khánh N – sinh ngày 24/11/2020. Khi ly hôn, bà giao 02 người con chung là cháu V, cháu N cho ông Q nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay các con chung đang ở với ông Q được ông Q chăm sóc tốt từ khi vợ chồng sống ly thân.

Hiện nay bà làm công nhân và có thu nhập 5.000.000 đồng/tháng nên không đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thế Q trình bày:

Ông và bà Vũ Thị D tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 11/12/2014 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai.

Trong cuộc sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau.

Vợ chồng đã sống ly thân từ 8/2025 đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau, hiện nay ông đang sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ở xã T, tỉnh Đồng Nai.

Nay bà D xin ly hôn thì ông không đồng ý và chỉ đồng ý sống ly thân trong thời gian 01 năm nhưng ông không xác định được hiện nay tình cảm dành cho bà D còn không nữa.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V – sinh ngày 16/10/2015 và cháu Nguyễn Thị Khánh N – sinh ngày 24/11/2020. Khi ly hôn, ông đồng ý nuôi dưỡng cháu N, cháu V và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện nay các con chung đang ở với ông từ khi vợ chồng sống ly thân, được ông chăm sóc nuôi dưỡng tốt.

Hiện nay ông làm công nhân và có thu nhập 15.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

2

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị D cho bà Vũ Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Thế Q.

Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Thế Q trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V – sinh ngày 16/10/2015 và cháu Nguyễn Thị Khánh N – sinh ngày 24/11/2020. Bà D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Vũ Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Thế Q hiện nay đang cư trú tại ấp D, xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. [1.2] Về quan hệ pháp luật: Bà Vũ Thị D khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Thế Q và giao 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V – sinh ngày 16/10/2015 và cháu Nguyễn Thị Khánh N – sinh ngày 24/11/2020 cho ông Q nuôi dưỡng nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    3. [1.3] Xác định tư cách đương sự: Bà Vũ Thị D là nguyên đơn và ông Nguyễn Thế Q là bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    4. [1.4] Tống đạt văn bản tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Về tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ các đương sự không có ý kiến gì.
  2. [2] Về nội dung:

    Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

    1. [2.1] Về quan hệ hôn nhân:

      Bà Vũ Thị D và ông Nguyễn Thế Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/12/2014, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp.

3

Tại biên bản lấy lời khai của các đương sự, kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Bà Vũ Thị D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thế Q vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2025 cho đến nay, mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Mặc dù ông Nguyễn Thế Q không đồng ý ly hôn và chỉ đồng ý ly thân nhưng quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông Q thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2025 đến nay mỗi người có một cuộc sống riêng, tình cảm dành cho bà D còn hay không thì ông cũng không xác định được chứng tỏ ông không mong muốn hàn gắn cuộc sống hôn nhân với bà D. Lời trình bày của ông Q, bà D phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương xã T, tỉnh Đồng Nai.

Xét thấy: Trong cuộc sống bà D, ông Q đã có nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D là có cơ sở.

    1. [2.2] Về con chung: Ông Nguyễn Thế Q và bà Vũ Thị D có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V – sinh ngày 16/10/2015 và cháu Nguyễn Thị Khánh N – sinh ngày 24/11/2020. Khi ly hôn, bà D giao 02 người con chung là cháu V, cháu N cho ông Q nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Q đồng ý nuôi dưỡng 02 người con chung và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.

      Xét thấy: Cháu Nguyễn Tường V có nguyện vọng ở với ông Q và hiện nay cháu V, cháu N đang ở với ông Q và được ông Q chăm sóc, nuôi dưỡng tốt từ khi vợ chồng sống ly thân. Bà D đồng ý để cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, cháu N.

      Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Tường V, cháu Nguyễn Thị Khánh N cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, bà D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Q không yêu cầu.

    2. [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  1. [3] Về án phí: Bà Vũ Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. [4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  3. [5] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

4

Căn cứ vào:

Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố Tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị D.

  1. 1. Về hôn nhân: Bà Vũ Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Thế Q.
  2. 2. Về con chung: Ông Nguyễn Thế Q và Vũ Thị D có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V – sinh ngày 16/10/2015 và cháu Nguyễn Thị Khánh N – sinh ngày 24/11/2020.

    Giao cho ông Nguyễn Thế Q có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là cháu Nguyễn Tường V và cháu Nguyễn Thị Khánh N. Tạm thời, bà D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Q không yêu cầu.

    Bà Vũ Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

  3. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. 4. Về án phí: Bà D phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0001677, ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. 5. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. 6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2025)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 3 – Đồng Nai;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND xã Tân An, tỉnh Đồng Nai
  • (số 187/2014, ngày 11/12/2014)
  • để ghi vào sổ hộ tịch ;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Đức

5

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Ngọc Thành Trần Thị Yến Nhi

Nguyễn Bá Đức

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger