|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2025 V/v: “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hoàng Thị Thu Hường
- Ông Cao Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trung H - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 66/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1995
CCCD số: [...], cấp ngày 13/8/2021
Nơi thường trú: Thôn C, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Lưu Văn T, sinh năm 1995
CCCD số: [...], cấp ngày 10/3/2020
Nơi thường trú: Xóm S (Xóm 20 cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn là chị Trần Thị Thùy L trình bày:
Chị và anh Lưu Văn T có đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2020 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường, hạnh phúc nhưng từ năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là tính cách, lối sống quan điểm sống khác nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm giữa chị với anh T không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Lưu Văn T để chị yên tâm làm ăn, sinh sống. Vợ chồng chị không có con chung, không có tài sản, công nợ, công sức đóng góp nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/5/2025, ông Lưu Văn T1 - bố đẻ của anh Lưu Văn T trình bày:
Gia đình ông đã nhận được các văn bản của Toà án về việc chị Trần Thị Thùy L có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh T. Hiện tại anh T đang đi làm xa nhưng vẫn thường xuyên liên lạc và về thăm gia đình. Ông đã thông báo nội dung khởi kiện ly hôn cho anh T được biết. Anh T có nói với gia đình là anh T không đồng ý ly hôn vì gia đình theo đạo Thiên chúa. Ông xác nhận quá trình kết hôn, con chung của vợ chồng anh T và chị L như chị L đã trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng anh T và chị L có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì ông không nắm rõ. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng anh T, chị L thì ông không nắm rõ.
Yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T, ông vẫn mong muốn vợ chồng anh T được đoàn tụ. Trường hợp chị L quyết tâm ly hôn thì ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh T vẫn thường xuyên về nhà và liên lạc với gia đình nên ông nhận trách nhiệm nhận các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án và thông báo cho anh T sớm nhất.
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 19/5/2025, chính quyền địa phương xã T cung cấp:
Chị Trần Thị Thùy L và anh Lưu Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2020 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Quá trình sinh sống, vợ chồng anh T và chị L có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm rõ. Về con chung, vợ chồng anh T, chị L không có con chung. Về tài sản, khoản nợ, công sức đóng góp của vợ chồng anh T, chị L thì địa phương không nắm được.
Chính quyền địa phương đã tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho gia đình anh T, do anh T đi làm ăn xa nhưng vẫn thường xuyên về thăm gia đình. Anh Lưu Văn T hiện vẫn đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm S (xóm B cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Về yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS;
Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt và không trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 70, 72 BLTTDS.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.
Về nội dung: Xét thấy vợ chồng chị L và anh T mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Thùy L:
- Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Thùy L và anh Lưu Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng chị L và anh T không có con chung nên không xem xét.
- Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn được biết. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt và không xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, không có mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy L và anh Lưu Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2020 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp theo quy định của pháp luật.
[3] Trong quá trình chung sống giữa chị Trần Thị Thùy L và anh Lưu Văn T đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; mặc dù anh T không muốn ly hôn nhưng bỏ mặc việc vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị L để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng chị L và anh T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ, chồng trong vụ án này.
[6] Về án phí: Đương sự phải nộp án phí theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Thùy L và anh Lưu Văn T.
- Án phí: Chị Trần Thị Thùy L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004268 ngày 24/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thùy L - Lưu Văn T
