TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/6/2025 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thị Bửu Huệ;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim T, sinh năm: 1992, căn cước công dân số: [...] do Cục Q về trật tự xã hội cấp ngày 21/10/2022; địa chỉ thường trú: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ tạm trú: Số C khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1991; căn cước công dân số: 09391006752 do Cục Q về trật tự xã hội cấp ngày 25/10/2022; địa chỉ thường trú: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; địa chỉ tạm trú: Số C khu phố Đ, phường D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Văn L tự nguyện tìm hiểu nhau một thời gian thì tiến đến kết hôn vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2018 ngày 01/6/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm tới ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh L.
+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Quyền và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/4/2025; tham gia phiên tòa vào ngày 23/5/2025 và ngày 09/6/2025 nhưng anh L vắng mặt không có lý do. Đồng thời, anh L cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
- Ngày 08/4/2025 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị T, anh L tại Hội liên hiệp phụ nữ phường D và được cung cấp như sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị T, anh L không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thì vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung thì Hội liên hiệp phụ nữ phường không rõ vì không có thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228. Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Do đó, đây là vụ án về “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn anh L tạm trú tại: Số C khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ các Điều 207, 227 và 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim T và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2018 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 01/6/2018 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị T xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm tới ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh L.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Chị T xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh L đã được Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải cũng như tham gia phiên tòa trong vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T, anh L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh L là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị T, anh L không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T về việc tranh chấp ly hôn đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L (theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2018 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cấp vào ngày 01/6/2018).
- Về con chung: Không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007891 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nguyễn Minh Hoàng |
☐
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Kim T-Nguyễn Văn L
