|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 – 6 – 2025
V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân – Bà Nguyễn Thị Thu Cúc
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 79/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 251/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0849.095.xxx
- - Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0985.830.xxx
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- - Nguyên đơn bà Đỗ Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 1999, bà với ông N do mai mối nên quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M vào ngày 27/5/2003. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, khoảng năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông N không dành thời gian quan tâm, chăm sóc gia đình, cuộc sống kinh tế khó khăn dẫn đến vợ chồng không hòa hợp, bà với ông N đã không còn sống chung nhà với nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N.
- Về con chung, cấp dưỡng: Quá trình chung sống, bà với ông N có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Tú H, sinh ngày 08/4/2005 và Lê Hoàng P, sinh ngày 19/11/2000; các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bà hiện làm thuê, điều kiện đi lại khó khăn, tình cảm vợ chồng đối với ông N không còn nên bà yêu cầu Tòa án không hòa giải đối với vụ án, yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa khi vụ án được đưa ra xét xử.
Bị đơn ông Lê Văn N đã được Tòa án tổng đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng ông không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của ông.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà D ly hôn với ông N. Ông bà có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Tú H, sinh ngày 08/4/2005 và Lê Hoàng P, sinh ngày 19/11/2000; các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không giải quyết. Nợ chung và tài sản chung: không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông N, địa chỉ cư trú của ông N thuộc thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà D xin xét xử vắng mặt, ông N thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông N theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Ông N và bà D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 27/5/2003 tại UBND xã M, thành phố L nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông N.
[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N để ông thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên cho đến nay ông N vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.
[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau, ông bà đã ly thân từ năm 2024. Trong suốt thời gian vừa qua, ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn do đó bà D gửi đơn yêu cầu ly hôn. Nay bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng ông N vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ ông N không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà D. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của bà D với ông N là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Tú H, sinh ngày 08/4/2005 và Lê Hoàng P, sinh ngày 19/11/2000; các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên Tòa án không giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng.
[2.5] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông N không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Diễm .
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đỗ Thị Diễm ly H1 với ông Lê Văn N. Giấy chứng nhận kết hôn số 112 quyển số 01/2003 ngày 27/5/2003 của Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L cấp cho ông N, bà D không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Ông N và bà D có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Tú H, sinh ngày 08/4/2005 và Lê Hoàng P, sinh ngày 19/11/2000; các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nên Tòa án không giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đỗ Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002205 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Lê Văn N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Bà Đỗ Thị D và ông Lê Văn N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
