Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HC-ST

Ngày: 26-5-2025

V/v khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh

vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tố Linh, ông Hoàng Tương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Yến là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2025/TLST-HC, ngày 13/3/2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-HC ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959;

Địa chỉ: F, X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B

Địa chỉ: Khu dân cư B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi nhánh Văn phòng Đ
  2. Địa chỉ: Số C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  3. Ủy ban nhân dân thành phố P
  4. Địa chỉ: Số D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985;
  6. Địa chỉ: B Đ, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị Thanh N được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE138608 ngày 09/09/2016, cập nhật biến động ngày 15/10/2018 cho cá nhân ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 305, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích: 100 m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng: Lâu dài.

Ngày 10/5/2022, bà nhận chuyển nhượng thửa đất này từ ông Nguyễn Văn T thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C, công chứng vào ngày 10 tháng 05 năm 2022. Sau đó, bà nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh Văn phòng Đ để đăng ký biến động sang tên giấy chứng nhận từ ông Nguyễn Văn T qua tên bà Nguyễn Thị H thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Công chứng, chứng thực.

Ngày 24/12/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà kèm theo Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024 về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H. Nội dung công văn nêu: ".... Thửa đất Bà đăng ký chuyển quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE138608 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 03415) do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh B cấp ngày 09/09/2016 thuộc thửa đất số 305, Tờ bản đồ số 7; diện tích 100 m². Thời hạn sử dụng: Lâu dài; vị trí thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Qua kiểm tra, thửa đất ở tại nông thôn của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 637/QĐ-UBND ngày 27/07/2016 cho Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Thanh N1) nhưng không phù hợp quy hoạch (Đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại quyết định số 3200/QĐUBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.".....nên Chi nhánh Văn phòng Đ thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trực thuộc Sở T không thực hiện nhiệm vụ công vụ đăng ký biến động theo quy định mà hoàn trả lại hồ sơ xin đăng ký biến động sang tên cho bà.

Căn cứ Luật Đất đai hiện hành, trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà đối với thửa đất chưa có quyết định thông báo thu hồi đất, đất không bị tranh chấp, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật; trong đó có quyền chuyển nhượng và quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Chi nhánh văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình trong việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của B là làm hạn chế quyền của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đã được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết:

  1. Hủy Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H

3

  1. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao theo quy định pháp luật trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H.

Người bị kiện, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 1291/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 12/5/2025:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp ý kiến tại Công văn số 3361/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 05/5/2025 và toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Tòa án. Văn phòng Đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn trên và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 3361/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 05/5/2025:

Ngày 20/12/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H tại biên nhận số 3268/BPTNTKQ.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 305, tờ bản đồ số 7 theo Giấy chứng nhận số CE 138608 có nguồn gốc được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 637/QĐ-UBND ngày 27/7/2016 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B ban hành Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: “...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 24/12/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Nguyễn Thị H được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

4

  1. Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến trong vụ án.
  2. Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt và không có ý kiến trong vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 32, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, hủy Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ và UBND thành phố P vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn T vắng mặt nhưng quyền lợi của ông T (là bên chuyển nhượng) thống nhất với quyền lợi của người khởi kiện (bên nhận chuyển nhượng) nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về quyền khởi kiện: Ngày 10/5/2022, bà Nguyễn Thị H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T, hợp đồng đã được công chứng. Sau khi nộp hồ sơ đăng ký sang tên, ngày 24/12/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà H. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên bà H đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H nên bà có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024. Đến ngày 23/01/2025, bà Nguyễn Thị H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] khoản 1 Điều 45 Luật đất đai năm 2024 quy định:

“Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...;

5

b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;

d) Trong thời hạn sử dụng đất;

đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.”

[4.2] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất được chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

[4.3] Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy hoạch của Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của bà Nguyễn Thị H. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, thu hồi, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
  • - Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024;
  • - Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

6

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
    • - Hủy Thông báo số 1975/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 24/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
    • - Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
    • - Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.
    • - Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B.Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B.Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HC-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 97/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Hiền khởi kiện VPĐK tỉnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger