TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 97/2025/DSST Ngày: 28 - 5 - 2025 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Rành;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Nhung – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 704/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2025/QDST-DS ngày 29/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: Số B N, K, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Quốc B, sinh năm 1974; Địa chỉ: Căn hộ A Tầng A, Chung cư S H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê N, sinh năm 1974; Địa chỉ liên hệ: Số E Đường B, khu A, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 156/2025/UQ-TGĐ ngày 08/01/2025) (Có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2024, trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án có ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (nguyên đơn) có ký kết với ông Nguyễn Hoàng Quốc B (bị đơn) “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, với nội dung: Loại thẻ tín dụng: Visa Platinum Cashback; Số tài khoản thẻ: 472075-1164; Hạn mức thẻ tín dụng được cấp là: 20.000.000 đồng; Mức lãi suất trong hạn là 2.77%/tháng; Lãi suất quá hạn: 4.15%/tháng; Mục đích: tiêu dùng cá nhân; Hình thức bảo đảm: tín chấp.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông B đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 265.617.993 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông B đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 263.388.086 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông B vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 23,291,035 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 4.15%/tháng (= lãi suất trong hạn 2.77% x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 28/05/2025, ông B còn nợ ngân hàng các khoản sau: Dư nợ gốc số tiền là 23.291.035 đồng, số tiền lãi quá hạn là 28.604.256 đồng. Tổng cộng: 51.895.291 đồng.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Hoàng Quốc B: Buộc ông Nguyễn Hoàng Quốc B phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 28/05/2025 là 51.895.291 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc là
23.291.035 đồng và số tiền lãi quá hạn là 28.604.256 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 29/5/2025 ông Nguyễn Hoàng Quốc B có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền có đơn yêu xét xử vắng mặt.
Về phía bị đơn ông Nguyễn Hoàng Quốc B, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận G đã nhiều lần triệu tập ông B đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông B không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận G:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Hoàng Quốc B. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự, quan hệ tranh chấp là quan hệ tín dụng và bị đơn có địa chỉ tại Quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận G theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Thân Lê N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4] Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:
Để chứng minh cho yêu cầu của mình ngoài một số tài liệu là bản sao đã được chứng thực, đối chiếu bản chính, nguyên đơn còn cung cấp cho Tòa án bản sao các tài liệu có liên quan nhưng không có bản chính để đối chiếu, sao y. Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự biết nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án cho xem và không có đương sự nào phản đối các tài liệu này. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đều thừa nhận nội dung vụ việc đúng như diễn tiến nêu tại phần trên. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Tòa án sẽ sử dụng các tài liệu này làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Nguyễn Hoàng Quốc B đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo
quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ thẻ tín dụng theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, tạm tính đến ngày 28/5/2025, với tổng số tiền là 51.895.291 đồng, trong đó:
- - Số tiền nợ gốc là 23.291.035 đồng;
- - Số tiền nợ lãi quá hạn là 28.604.256 đồng;
Ngoài ra kể từ ngày 29/5/2025, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc:
Căn cứ tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có cho ông Nguyễn Hoàng Quốc B mở thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng thẻ là 20.000.000 đồng. Ông Nguyễn Hoàng Quốc B đã sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 265.617.993 đồng. Ông B đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 263.388.086 đồng. Tính đến ngày 28/5/2025, ông B còn nợ số tiền gốc là 23.291.035 đồng nhưng ông B không thực hiện việc thanh toán theo đúng thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên bị đơn là bên có lỗi. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ gốc là 23.291.035 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc buộc bị đơn phải trả nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 28/5/2025 với số tiền là 28.604.256 đồng.
Xét thấy các bên tự nguyện thỏa thuận việc tính lãi, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Đây là mức lãi suất theo thỏa thuận, có giá trị ràng buộc quyền, nghĩa vụ trả lãi của bên vay. Thời hạn chuyển nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 28/5/2025 với số tiền là 28.604.256 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Hoàng Quốc B còn phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc là phù hợp theo thỏa thuận và pháp luật nên được chấp nhận.
[3.3] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Hoàng Quốc B phải có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 227, Điều 228; Điều 266; Điều 273 và Điều 357của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng Quốc B thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 28/5/2025 theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là 51.895.291 (Năm mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, hai trăm chín mươi mốt) đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 23.291.035 (Hai mươi ba triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn không trăm ba mươi lăm) đồng và số tiền nợ lãi quá hạn là 28.604.256 (Hai mươi tám triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn hai trăm năm mươi sáu) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Hoàng Quốc B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 15/8/2018, kèm theo Giấy đề nghị là Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
- Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Ông Nguyễn Hoàng Quốc B phải chịu 2.594.765 (Hai triệu năm trăm chín mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 843.998 (Tám trăm bốn mươi ba ngàn chín trăm chín mươi tám) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/23P số 0022921 ngày 17/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Luyến |
Bản án số 97/2025/DSST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 97/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng ông Nguyễn Hoàng Quốc B
