Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

Số: 97/2025/DSST

Ngày 19/11/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tặng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST-DS, ngày 04 tháng 7 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-DS ngày 10/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QĐST-DS ngày 31/10/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).
  • Địa chỉ trụ sở chính: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Châu Anh T – Chức vụ: Trưởng Phòng Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh P – Phòng G (Theo Quyết định số 4039/2024/QĐ-PC ngày 27/12/2024 của Tổng Giám đốc – Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng TMCP S).
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông Châu Anh T là: Ông Nguyễn Văn D1, chức vụ: Phó phòng giao dịch A – Chi nhánh P (Văn bản ủy quyền số 71/GUQ-PGDAT ngày 27/5/2025).
  • Địa chỉ liên hệ: 78 N, khu phố C A, đặc khu P, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1980.
  • Địa chỉ: Khu phố D A, đặc khu P, tỉnh An Giang.

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (S1) trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) có cho bà Nguyễn Kim L (khách hàng) vay các khoản tiền như sau:

  • - Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023, với số tiền vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh nhỏ lẻ, thời điểm trả nợ đến hết ngày 28/3/2024, lãi suất thỏa thuận là 32,4%/năm. Ngân hàng đã giải ngân khoản vay 50.000.000 đồng cho bà L sử dụng. Trong quá trình vay vốn bà Nguyễn Kim L đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 12.129.200 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 22/5/2025 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn nhóm 5. Tính đến ngày 22/5/2025, bà L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 45.948.000 đồng, trong đó: vốn gốc là 39.557.600 đồng và lãi là 6.390.700 đồng.
  • - Khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020, với số tiền vay là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất 33,2%/năm, thời hạn sử dụng thẻ là 05 năm và thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng. Hàng tháng khách hàng phải thanh toán 3% dư nợ cuối kỳ (chốt dư nợ cuối kỳ ngày 05 tây hàng tháng), Ngân hàng sẽ cho khách hàng 25 ngày kể từ ngày chốt sao kê để thanh toán. Nếu khách hàng phát sinh trễ hạn sẽ bị thu phí phạt bằng 6% (tối thiểu 100.000 đồng) số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ đó. Nếu khách hàng không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền thanh toán tối thiểu sau 02 kỳ chốt thông báo giao dịch cộng 10 ngày thẻ sẽ chuyển sang nợ nhóm 2. Từ thời điểm chuyển nhóm 2 nếu khách hàng không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu của 02 kỳ chốt giao dịch sau thời gian 90 ngày thẻ sẽ chuyển sang nợ nhóm 3 và chốt toàn bộ dư nợ thành vốn gốc, lãi phát sinh sau khi chuyển nhóm 3 sẽ bằng 150% lãi trong hạn.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà Nguyễn Kim L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Trong quá trình sử dụng từ ngày cấp thẻ đến ngày 21/5/2025 bà Nguyễn Kim L chưa thanh toán cho Ngân hàng, nên thẻ tín dụng của bà Nguyễn Kim L chuyển sang quá hạn nhóm 5. Tổng số tiền tính đến ngày 21/5/2025 bà L còn nợ Ngân hàng là 35.147.865 đồng (trong đó: vốn gốc là 22.136.489 đồng và lãi là 13.011.375 đồng).

Do bà Nguyễn Kim L chưa thanh toán nợ cho ngân hàng và vi phạm nghĩa vụ không tiếp tục thanh toán theo đúng thỏa thuận với Ngân hàng. Ngân hàng có thông báo cho bà L thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho ngân hàng nhiều lần nhưng bà L tránh né, kéo dài thời gian, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Nguyễn Kim L phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/11/2025 là: 82.197.963 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng), trong đó:

  • - Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023: Nợ gốc 39.557.600 đồng, nợ lãi là 6.390.700 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.260.467 đồng và lãi quá hạn là 2.130.233 đồng).
  • - Khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020: Nợ gốc là 22.136.148 đồng, nợ lãi là 14.113.515 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 11.062.220 đồng và lãi quá hạn là 3.051.295 đồng).
  • - Bà Nguyễn Kim L còn phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh của khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và của khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020: kể từ ngày 20/11/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

* Đối với bị đơn bà Nguyễn Kim L:

Đã được Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên bà Kim L không gửi văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bà.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của T1, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về những người tham gia tố tụng:
  • Đối với nguyên đơn đã chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn bị đơn bà Nguyễn Kim L thì chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, còn bị đơn bà Nguyễn Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
  • - Về việc giải quyết vụ án:
  • Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020, giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Kim L thì thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Kim L là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Do bị đơn bà Nguyễn Kim L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, nên đề Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: buộc bị đơn là bà Nguyễn Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S với số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020 tổng số tiền tính đến ngày 19/11/2025 là: 82.197.963 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng) và phải trả tiếp tiền lãi và phí phát kể từ ngày 20/11/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  2. Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Bị đơn là bà Nguyễn Kim L có nơi cư trú tại địa bàn thuộc đặc khu P, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Q về thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực.

    Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Nguyễn Kim L nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, còn bị đơn bà Nguyễn Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

  3. Về nội dung:
  4. Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Kim L được giao kết theo hình thức hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020, hợp đồng được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.

    Theo các hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Kim L vay của Ngân hàng các khoản vay:

    • - Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023, với số tiền vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh nhỏ lẻ, thời điểm trả nợ đến hết ngày 28/3/2024, lãi suất thỏa thuận là 32,4%/năm. Ngân hàng đã giải ngân khoản vay 50.000.000 đồng cho bà L sử dụng. Trong quá trình vay vốn bà Nguyễn Kim L đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 12.129.200 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 22/5/2025 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn nhóm 5. Tính đến ngày 22/5/2025, bà L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 45.948.000 đồng, trong đó: vốn gốc là 39.557.600 đồng và lãi là 6.390.700 đồng.
    • - Khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020, với số tiền vay là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất 33,2%/năm, thời hạn sử dụng thẻ là 05 năm và thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng. Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền của thẻ tín dụng nêu trên cho bà Nguyễn Kim L sử dụng. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng số tiền vay của thẻ tín dụng, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng theo như các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020. Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở bà L thực hiện việc thanh toán nợ cho Ngân hàng, nhưng bà L cố tình không thực hiện việc trả nợ.

    Do đó, Ngân hàng TMCP S đã khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Kim L phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/11/2025 là: 82.197.963 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng), trong đó:

    • - Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023: Nợ gốc 39.557.600 đồng, nợ lãi là 6.390.700 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.260.467 đồng và lãi quá hạn là 2.130.233 đồng).
    • - Khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020: Nợ gốc là 22.136.148 đồng, nợ lãi là 14.113.515 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 11.062.220 đồng và lãi quá hạn là 3.051.295 đồng).
    • - Bà Nguyễn Kim L còn phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh của khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và của khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020: kể từ ngày 20/11/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

    Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Nguyễn Kim L đã tự nguyện thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S theo hình thức đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020 và đồng ý với các điều khoản của các Hợp đồng tín dụng khi ký kết với Ngân hàng, nên bà Kim L phải chịu sự ràng buộc bởi các thỏa thuận ghi trong các hợp đồng và quy định của pháp luật về việc vay tiền theo hình thức các hợp đồng tín dụng nêu trên. Sau khi ký kết các hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền theo các hợp đồng tín dụng cho bà Kim L sử dụng, tuy nhiên trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng bà Kim L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như hai bên thỏa thuận. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S là có cơ sở chấp nhận, Hội đồng xét xử cần buộc bà Nguyễn Kim L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ của đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020 tính đến ngày 19/11/2025 là: 82.197.963 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng) và phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 20/11/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo các khoản vay là phù hợp với quy định tại các Điều 280, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  5. Về án phí:
  6. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

    Bị đơn bà Nguyễn Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được tòa án chấp nhận, số tiền án phí được tính là: 82.197.963 đồng x 5% = 4.109.898 đồng (Bốn triệu một trăm lẻ chín nghìn tám trăm chín mươi tám đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điều 280 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Nguyễn Kim L.
    • - Buộc bà Nguyễn Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/11/2025 là: 82.197.963 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng), trong đó:
      • + Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023: Nợ gốc 39.557.600 đồng, nợ lãi là 6.390.700 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.260.467 đồng và lãi quá hạn là 2.130.233 đồng).
      • + Khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1528989 ngày 20/7/2020: Nợ gốc là 22.136.148 đồng, nợ lãi là 14.113.515 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 11.062.220 đồng và lãi quá hạn là 3.051.295 đồng).
    • - Bà Nguyễn Kim L còn phải trả tiếp tiền lãi và phí phát sinh của khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 00683 – 01219 ngày 28/9/2023 và của khoản vay theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 1528989 ngày 20/7/2020, kể từ ngày 20/11/2025 đến ngày trả hết nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
  2. Về án phí sơ thẩm:
    • - Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.027.000 đồng (Hai triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012820, ngày 18/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
    • - Bị đơn bà Nguyễn Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.109.898 đồng (Bốn triệu một trăm lẻ chín nghìn tám trăm chín mươi tám đồng).
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 2 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 2 – An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/DSST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 97/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S và bà Nguyễn Kim L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger