TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BẢN ÁN SỐ: 97/2025/DS-PT Ngày: 28-02-2025 V/v Đòi lại tài sản là QSD đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
- Bà Phạm Ngọc Giàu;
- Bà Lê Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 751/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 281/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 780/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1978; nơi cư trú: 1, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của ông N: anh Trần Minh T, sinh năm 1984; nơi cư trú: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản uỷ quyền ngày 11-5-2023); có mặt.
- Bị đơn: ông Phan Thành L, sinh năm 1960; nơi cư trú: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của ông L: anh Ngô Vĩ L1, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 02-7-2024); có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1981; nơi cư trú: 1, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của bà H: bà Lê Thị H1, sinh năm 1973; nơi cư trú: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 05-10-2022); vắng mặt.
- Bà Võ Thị L2, sinh năm 1966; nơi cư trú: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
Đại diện theo ủy quyền của bà L2: anh Ngô Vĩ L1, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 02-7-2024); có mặt.
- Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1981; nơi cư trú: 1, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: ông Nguyễn Xuân N là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 14 m², thuộc một phần thửa 591, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, do ông Nguyễn Xuân N, bà Lê Thị Ngọc H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do ông N, bà H nhận chuyển nhượng từ bà Võ Thị Thanh N1 vào năm 2022. Tài sản trên đất tranh chấp bao gồm: 01 phần căn nhà gỗ, 01 phần máy che (máy tole), tường gạch, hàng rào B40 của ông N. Phần tài sản này đã có trước khi ông N nhận chuyển nhượng đất từ bà N1. Từ khi nhận chuyển nhượng của bà N1 đến nay, hiện trạng không thay đổi. Nhưng khi kiểm trả trích lục lại sơ đồ thửa đất, ông N phát hiện thực tế ông L đã lấn sang ông N phần đất diện tích 14 m² nên khởi kiện yêu cầu ông L di dời toàn bộ tài sản để trả lại cho ông N phần đất này.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông thống nhất với phần đất tranh chấp có diện tích 14 m², thuộc một phần thửa 591, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc phần đất tranh chấp của cha mẹ cho ông vào năm 1989, ông đã sử dụng xây dựng nhà gỗ, làm hàng rào, xây bức tường từ năm 1992 đến nay, hiện trạng không thay đổi. Vào năm 2017, giữa ông và bà B (mẹ của bà N1) có tranh chấp với nhau về ranh,
nhưng hai bên đã thỏa thuận nội dung là bà B chuyển nhượng cho ông phần đất diện tích 13,8 m², ông đã trả cho bà B 15.000.000 đồng. Sau đó, bà B mới tặng cho con là bà Võ Thị Thanh N1 phần đất này. Từ đó đến nay, hiện trạng không thay đổi. Do phần đất này gia đình ông đã sử dụng ổn định lâu dài, đã xây các công trình kiên cố trên đất, người sử dụng đất trước đây không có ý kiến gì. Hơn nữa, theo sơ đồ địa chính, phần đất ông N đang quản lý, sử dụng cũng lấn sang phần đất của người khác, hiện trạng lối đi vào nhà ông N không giảm về diện tích. Do đó, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời, ông yêu cầu công nhận phần đất diện tích 14 m² cho ông được quyền quản lý, sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Ngọc H là bà Lê Thị H1 trình bày: Bà H là vợ của ông N, bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông N, không bổ sung gì thêm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 281/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, quyết định.
- - Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 244, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 166, 203 của Luật Đất đai 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân N đối với ông Phan Thành L về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản quyền sử dụng đất”.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành L đối với ông Nguyễn Xuân N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Ông Phan Thành L, bà Võ Thị L2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích diện tích 14 m², thuộc một phần thửa 694, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận như sau:
- Đông giáp thửa 694;
- Tây giáp Quốc lộ B;
- Nam giáp một phần thửa 694 dài 6,59 m + 6,73 m + 3,09 m + 10,60 m + 9,01 m;
Bắc giáp thửa 622 dài 19,52 m + 16,66 m.
Trên đất có 01 phần căn nhà gỗ, tường gạch, hàng rào lưới B40.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10-10-2024, ông Nguyễn Xuân N có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng dân sự, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân N. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 281/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Xuân N kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông N thấy rằng:
[2.1] Phần đất tranh chấp diện tích 14 m², thuộc một phần thửa 694, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N được cấp ngày 16-02-2022.
[2.2] Năm 2017, giữa cụ B và ông L có tranh chấp về ranh đất và thỏa thuận cụ B sang nhượng cho ông L phần đất có diện tích 13,8 m² với giá 15.000.000 đồng (bút lục từ 21 đến 24), các bên đã thực hiện xong và không còn tranh chấp. Như vậy, ranh đất giữa ông L và cụ B đã được xác định sau khi cụ B và ông L tranh chấp ranh đất vào năm 2017. Năm 2020, cụ B tặng cho đất cho con gái là bà
Võ Thị Thanh N1, bà N1 tiếp tục sử dụng đất và không có tranh chấp hay ý kiến gì đối với phần đất ông L về ranh đất. Đến năm 2022, bà N1 chuyển nhượng đất cho ông N thì ông N cũng không có ý kiến gì về ranh đất nhận chuyển nhượng của bà N1. Phần đất gia đình ông L đã quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1989 cho đến nay trên 30 năm, trong quá trình sử dụng đất, ông L đã xây dựng các công trình kiên cố như nhà gỗ, tường gạch, hàng rào mà không ai tranh chấp hay khiếu nại gì. Mặt khác, ông N cũng xác nhận kể từ khi nhận chuyển nhượng đất của bà N1 năm 2022 đến nay hiện trạng đất giữa đất ông và đất ông L không thay đổi. Do đó, ông N trình bày ông L lấn đất ông là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N là phù hợp với quy định tại Điều 166 Luật đất đai. Ông N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N. Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 281/2024/DS-ST ngày 30-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông Nguyễn Xuân N kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 244, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 166, 203 của Luật đất đai 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân N.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 281/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân N đối với ông Phan Thành L về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành L đối với ông Nguyễn Xuân N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Ông Phan Thành L, bà Võ Thị L2 được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích diện tích 14 m², thuộc một phần thửa 694, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận như sau:
- Đông giáp thửa 694;
- Tây giáp Quốc lộ B;
- Nam giáp một phần thửa 694 dài 6,59 m + 6,73 m + 3,09 m + 10,60 m + 9,01 m;
- Bắc giáp thửa 622 dài 19,52 m + 16,66 m.
Trên đất có 01 phần căn nhà gỗ, tường gạch, hàng rào lưới B40.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Xuân N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0014534 ngày 15-10-2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Vân |
Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 97/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
