|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 97/2025/DS-PT. Ngày: 27/03/2025. “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường;
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn;
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án sơ thẩm số: 145/2024/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn K, sinh năm 1960;
- Bị đơn:
- Ông Đoàn Văn L, sinh năm 1956;
- Bà Phạm Thị D, sinh năm 1966;
- Ông Đoàn Thanh L1, sinh năm 1986;
- Ông Đoàn Duy C, sinh năm 1991;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1963 (vợ ông K)
- Bà Vũ Thị H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Số E, ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C: Ông Nguyễn Gia Đ, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Số E, ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C.
(Ông K, ông Đ, bà N, bà H có mặt; ông L có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung khởi kiện, nguyên đơn ông Vũ Văn K trình bày như sau:
Vào năm 2011 ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D cùng cư ngụ tại ấp K, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang có đến nhờ ông đứng tên vay Ngân hàng giùm với tổng số tiền là 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng), trong đó riêng ông L1 vay số tiền là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng, có biên nhận tiền kèm theo), ông L1 và bà D, ông L, ông C vay số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng, có biên nhận và kèm theo Quyền sử dụng đất để thế chấp). Sau đó đến ngày đóng lãi thì ông L1, bà D, ông L, ông C không có tiền đóng lãi nên tiếp tục nhờ ông vay ngoài để đóng lãi với lãi suất là 2,5%/ tháng như trong biên nhận đã ký ngày 15/9/2012. Đến nay gia đình ông L, bà D, ông L1, ông C vẫn không đóng lãi và trả nợ gốc cho ông.
Nay ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất giải quyết buộc ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, Đoàn Văn L, Đoàn Văn C1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền gốc là: 190.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 15/9/2012 đến nay là 11 năm với lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền 416.328.000đ. Tổng gốc và lãi là 606.328.000 đồng.
* Ông Nguyễn Gia Đ - người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đoàn Thanh L1 trình bày:
Vào năm 2010 ông L1 có vay của ông K số tiền 70.000.000 đồng để mua trẹt và máy xới (T đã hỏng trong thời kỳ hôn nhân). Đến năm 2011 ông L1 cố đất cho ông K số tiền 60.000.000 đồng. Năm 2012 ông L1 thoả thuận với ông K lấy thêm tiền cố đất 60.000.000 đồng nữa (lúc này gia đình không biết), tổng cộng tiền cố đất là 120.000.000 đồng. Sau đó ông K làm các biên nhận cho ông L1 ký tên. Lúc đầu ông K viết giấy biên nhận cố đất số tiền 60.000.000 đồng, sau khi ông L1 chưa ký xong thì ông L1 mới nhớ còn 60.000.000 đồng trước đó nên kêu ông K viết giấy khác ghi 120.000.000 đồng để ông L1 ký lại. Do tin tưởng ông K là cha vợ nên ông L1 không đọc nội dung Giấy biên nhận ghi gì, chỉ thấy đúng 120.000.000 đồng là ông L1 ký tên nên ông L1 chỉ thừa nhận có ký tên nhưng không thừa nhận nội dung trong Giấy biên nhận.
Vào ngày 25/4/2023 bà D có đến nhà ông K xin chuộc lại đất mà trước đó ông L1 đã cố 120.000.000 đồng và ông K viết một Giấy biên nhận ghi số tiền gốc và lãi 900.000.000 đồng yêu cầu bà D ký tên nhưng bà D không đồng ý ký tên vì gia đình không vay mượn gì chỉ cố đất. Sau đó ông L1 mới khởi kiện ra Toà yêu cầu giải quyết việc cầm cố đất 120.000.000 đồng. Khi Toà án giải quyết vụ án cố đất, ông L1 xác định tiền cố đất là 120.000.000 đồng nhưng ông K nói tiền cố đất chỉ có 60.000.000 đồng nên ông L1 rút một phần yêu cầu khởi kiện và Bản án số 06 đã giải quyết tiền cố đất 60.000.000 đồng. Như vậy, ông L1 còn nợ ông K số tiền vay 70.000.000 đồng và thực tế còn nợ tiền cố đất 60.000.000 đồng. Tổng cộng 130.000.000 đồng.
Nay ông K yêu cầu tính lãi ông không đồng ý vì đối với tiền cố đất 60.000.000 đồng không đồng ý tính lãi vì không phải tiền vay. Còn tiền vay 70.000.000 đồng mua trẹt, ông L1 đã đóng lãi hàng năm cho ông K thông qua hình thức dùng máy xới làm đất nên không đồng ý trả lãi thêm. Ngoài ra, ông L1 chỉ thừa nhận còn nợ ông K số tiền 130.000.000 đồng (vừa tiền vay và vừa tiền cố đất). Số tiền này ông K xác định nợ trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Đoàn Thanh L1 với bà Vũ Thị H nên bà H cũng phải có trách nhiệm đối với phần nợ chung này. Bà H là con gái ông K, đã ly hôn với ông L1 vào năm 2017. Do đó nếu phải trả nợ cho ông K thì cả ông L1 và bà H đều phải có trách nhiệm trả, ông L1 đồng ý trả ½ số nợ bằng 130.000.000₫ : 2 = 65.000.000 đồng. Còn ông L, bà D và ông C1 không có liên quan gì trong vụ án này.
* Bị đơn ông Đoàn Văn L, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C trình bày như sau:
Từ trước đến nay các ông bà không có vay mượn tiền gì của ông Vũ Văn K. Vụ kiện tự ông K và ông L1 giải quyết với nhau, không liên quan đến các ông bà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H trình bày tại Biên bản ghi lời khai như sau:
Bà không có liên quan đến các khoản nợ giữa ông K với gia đình ông L1, cụ thể như sau:
- Đối với số tiền vay 70.000.000 đồng: Số tiền này do bà và ông L1 vay của cha bà là ông K từ khoảng năm 2010 để mua máy xới làm, lúc vay có nói sẽ trả lãi theo Ngân hàng N1 cho ông K nhưng cuối cùng cũng không trả lãi được gì. Đến khi ly hôn năm 2017, bà và ông L1 có thoả thuận là ông L1 sẽ được quản lý, sử dụng trẹt và máy xới và ông L1 có trách nhiệm trả số tiền 70.000.000 đồng cho ông K và tiền lãi. Khi đó người giải quyết ly hôn có nói hai bên thống nhất để tài sản chung và nợ chung không có để giải quyết cho nhanh, còn trẹt và máy xới thì hai bên cứ thực hiện theo đúng thoả thuận là được.
- Đối với số tiền 120.000.000 đồng: Số tiền này do mẹ con ông L1 tự xuống nhà cha bà là ông K đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhờ ông K đứng ra vay giùm Ngân hàng để lấy tiền cố đất ở K làm, không có liên quan đến bà.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn K.
Buộc ông Đoàn Thanh L1 có trách nhiệm trả cho ông Vũ Văn K số tiền gốc và lãi là 147.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi bảy triệu đồng).
Buộc bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C, ông Đoàn Thanh L1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Vũ Văn K số tiền gốc và lãi 252.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bác yêu cầu của ông Vũ Văn K đối với ông Đoàn Văn L và một phần yêu cầu về lãi suất.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo theo luật định.
* Ngày 14/10/2024, ông Đoàn Thanh L1 kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Tòa án sơ thẩm xét xử không áp dụng thời hiệu, xác định không đúng quan hệ tranh chấp, tính lãi suất không đúng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, áp dụng pháp luật chưa đúng. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 145/2024/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất để giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tôi theo quy định của pháp luật
* Ngày 14/10/2024, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C cùng làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:
Bản án sơ thẩm tuyên không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 145/2024/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất để giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chúng tôi theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Vũ Văn K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Đoàn Thanh L1, Phạm Thị D, Đoàn Duy C là ông Nguyễn Gia Đ có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của các bị đơn, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H, bà Phạm Thị N đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung:
Ông Vũ Văn K khởi kiện yêu cầu ông Đoàn Văn L, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Thanh L1, ông Đoàn Duy C phải có nghĩa vụ trả cho ông số nợ vay với tổng số tiền là 190.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm tính từ ngày ký biên nhận nợ - ngày 15/9/2012, không thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nợ. Người đại diện là ông Nguyễn Gia Đ xác định ông L1 còn nợ ông K 70.000.000 đồng, hằng năm ông L1 đều có đóng lãi cho ông K bằng hình thức đối trừ từ việc xới đất cho ông K, ông K không thừa nhận và ông L1 không có chứng cứ chứng minh. Cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông K, buộc ông L1 trả nợ gốc 70.000.000 đồng và lãi 77.000.000 đồng, tổng cộng 147.000.000 đồng là có căn cứ.
Về số nợ 120.000.000 đồng, tại “Giấy biên nhận nợ ngày 15/9/2012” nội dung không thể hiện việc cầm cố QSD đất giữa hai bên mà chỉ là tiền vay.
Quá trình giải quyết vụ án các bị đơn không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện nên cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu là đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, vào ngày 25/4/2023 ông K với các bị đơn vẫn còn thỏa thuận về việc trả nợ gốc và lãi suất. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C, ông Đoàn Thanh L1 là những người cùng ký tên vào biên nhận nợ phải có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền gốc 120.000.000 đồng và lãi suất là có căn cứ.
Đề nghị cấp phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn Đoàn Thanh L1, Phạm Thị D, Đoàn Duy C, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự số 145/2024/DS-ST ngày 02/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về thủ tục tố tụng:
- [2].Về nội dung:
- [2.1]. Ông Vũ Văn K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, Đoàn Văn L, Đoàn Văn C1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền gốc là: 190.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 15/9/2012 đến ngày xét xử sơ thẩm là 11 năm với lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền 416.328.000đ. Tổng gốc và lãi là 606.328.000 đồng, trong đó riêng ông L1 vay số tiền là 70.000.000 đồng, có biên nhận, ông L1 và bà D, ông L, ông C1 vay số tiền 120.000.000 đồng có biên nhận và thế chấp quyền sử dụng đất.
Ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C kháng cáo trong hạn luật định và nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
Xét nội dung kháng cáo của các đương sự Đoàn Thanh L1, Phạm Thị D, Đoàn Văn C1 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vụ án, đối chiếu các tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của đương sự tại phiên tòa, nhận thấy:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến giai đoạn công khai chứng cứ, hòa giải, các đương sự không có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định pháp luật. Đối với khoản nợ 70.000.000 đồng - ngày 15/9/2012, tại phiên toà, ông Nguyễn Gia Đ cũng khẳng định số tiền này đến nay ông L1 chưa trả cho ông K. Đối với biên nhận nợ 120.000.000 đồng ngày 15/9/2012, theo các đương sự xác định ngày 25/4/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn vẫn còn thỏa thuận về trả nợ gốc và lãi suất. Do đó, Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và không áp dụng thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.
- [2.2]. Đối với số tiền 70.000.000 đồng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Gia Đ – người đại diện theo uỷ quyền của ông L1 thừa nhận ông L1 có vay của ông Kim S nợ 70.000.000 đồng nhưng không đồng ý trả lãi và cho rằng từ sau khi vay, hàng năm ông L1 có đóng lãi cho ông K thông qua hình thức dùng máy trẹt và máy xới làm đất cho ông K để trừ số tiền lãi 9.900.000 đồng/năm cho đến năm 2017 ông L1 không thực hiện việc đóng lãi cho ông K nữa. Tuy nhiên việc này không được ông K thừa nhận và ông L1 cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh nên cấp sơ thẩm buộc ông L1 trả lãi cho ông K từ tháng 9/2012 đến thời điểm khởi kiện đối với số tiền 70 triệu đồng, tiền lãi được tính: 70.000.000₫ x 10%/năm x 11 năm = 77.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 147.000.000 đồng là phù hợp.
Ông Đoàn Thanh L1 kháng cáo cho rằng nợ chung trong thời kỳ hôn nhân nên ông L1 và bà H cùng phải có trách nhiệm trả nợ cho ông K. Xét thấy: Năm 2012 ông L1, bà H có vay của ông K số tiền 70.000.000 đồng để mua trẹt và máy xới để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Đến năm 2017, vợ chồng ông L1, bà H có đơn yêu cầu ly hôn và được Toà án giải quyết công nhận sự thuận tình ly hôn; tại thời điểm ly hôn, ông L1 và bà H vẫn còn tài sản chung là trẹt và máy xới và hai bên đã thoả thuận giao tài sản này cho ông L1 tiếp tục quản lý, sử dụng, đồng thời ông L1 có trách nhiệm trả nợ chung. Tại bản tự khai của ông L1 cũng thể hiện rõ việc mình sẽ chịu trách nhiệm trả nợ. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay ông L1 vẫn chưa trả được số tiền 70.000.000 đồng cho ông K. Do đó, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc buộc ông L1 phải chịu trách nhiệm trả nợ cho ông K là phù hợp.
- [2.3]. Đối với số tiền 120.000.000 đồng: Bà D, ông C1 không thừa nhận nợ ông K, còn ông L1 cho rằng tiền cố đất là 60.000.000 đồng, không nợ số tiền 120.000.000 đồng, xét thấy: Tại Giấy biên nhận ngày 15/9/2012 được thể hiện cụ thể nội dung: “Tôi tên Đoàn Văn L cùng vợ và các con là Phạm Thị D, Đoàn Thanh L1, Đoàn Văn C1 ...có nhờ vợ chồng ông Vũ Văn K đứng ra vay số tiền của Ngân hàng là 120.000.000 đồng... Nay đến kỳ đóng lãi Ngân hàng nhưng vì điều kiện gia đình tôi chưa có, do vậy gia đình tôi có nhờ ông K vay giúp số tiền 9.900.000 đồng để ông K trả lãi Ngân hàng cho gia đình tôi với lãi suất 2,5%/tháng...hạn đến đông xuân gia đình tôi xin trả hết cả gốc và lãi cho ông K trả Ngân hàng. Khi tôi trả xong ông K có trách nhiệm trả lại sổ đất cho tôi. Nếu đến đông xuân tôi không trả được tôi xin chịu trách nhiệm với ngân hàng và ông K”. Phần ký tên người vay có bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C, ông Đoàn Thanh L1.
Ông Nguyễn Gia Đ – người đại diện theo ủy quyền của ông L1 thừa nhận chữ ký “Liêm” và chữ viết họ tên “Đoàn Thanh L1” bên người vay trong biên nhận này đúng là của ông L1 ký và viết ra.
Đối với chữ viết họ tên bà D, ông C trong biên nhận, bà D và ông C không thừa nhận nợ, cho rằng không ký nhận nợ nhưng không yêu cầu giám định chữ viết. Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, ông C, ông L, bà D - ông Nguyễn Gia Đ cho rằng: số tiền 120.000.000 đồng là tiền cố đất nhưng trong biên nhận nợ 120.000.000 đồng hoàn toàn không có nội dung nào thể hiện việc cố đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự kháng cáo cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình để cấp phúc thẩm xem xét. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông K về số nợ 120 triệu đồng buộc ông L1, ông C, bà D phải thanh toán cho ông K là có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo hướng đã phân tích.
- [3].Về án phí:
- [3.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Vũ Văn K được miễn nộp tiền án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
- Ông Đoàn Thanh L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 147.000.000 đồng, án phí là 7.350.000 đồng.
- Bà Phạm Thị D, ông Đoàn Thanh L1, ông Đoàn Duy C cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 252.000.000 đồng, án phí là 12.600.000 đồng.
- [3.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm, được khấu trừ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 157, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ Điều 147, Điều 148 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn K.
- Buộc ông Đoàn Thanh L1 có trách nhiệm trả cho ông Vũ Văn K số tiền gốc và lãi là 147.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi bảy triệu đồng).
- Buộc bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C, ông Đoàn Thanh L1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Vũ Văn K số tiền gốc và lãi 252.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn K đối với ông Đoàn Văn L và một phần yêu cầu về lãi suất.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Đoàn Thanh L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.350.000 đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
- Bà Phạm Thị D, ông Đoàn Thanh L1, ông Đoàn Duy C cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Đoàn Thanh L1 phải nộp án phí 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0009606 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án đan sự huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nguyễn Gia Đ nộp thay).
- Bà Phạm Thị D, ông Đoàn Duy C phải nộp án phí phúc thẩm mỗi người 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng ( Sáu trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0009607 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án đan sự huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nguyễn Gia Đ nộp thay).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Hoàng Thị Thu Hường |
Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 97/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc các bị đơn ông Đoàn Thanh L1, bà Phạm Thị D, Đoàn Văn L, Đoàn Văn C phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền gốc 190.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 15/9/2012 đến thời điểm khởi kiện là 11 năm với lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền 416.328.000đ. Tổng gốc và lãi là 606.328.000 đồng.
