|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/DS-PT Ngày: 24/6/2025 V/v: Tranh chấp Thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên; Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 150/2024/DS-PT ngày 07/10/2024 về việc kiện Tranh chấp Thừa kế.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2024/QĐ-PT ngày 09/12/2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Dương Văn T, sinh năm 1960; có mặt.
- Bà Dương Thị C, sinh năm 1956; xin vắng mặt.
Đều trú tại: Xóm X, xã B, TP S, tỉnh Thái Nguyên
- Bà Dương Thị Đ, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm T, xã B, TP S, Thái Nguyên; uỷ quyền cho ông Dương Văn T sinh năm 1960; trú tại: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên; có mặt.
Bị đơn:
- Ông Dương Văn L, sinh năm 1952; vắng mặt; uỷ quyền cho chị Trần Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên; có mặt
- Anh Dương Văn T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1952, (đã chết tháng 02/2024)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà N:
- Ông Dương Văn L, sinh năm 1952, vắng mặt.
- Anh Dương Văn T1, sinh năm 1972; có mặt.
- Chị Dương Thị H1, sinh năm 1974; vắng mặt.
- Anh Dương Văn H2, sinh năm 1976; vắng mặt.
Đều trú tại: Xóm X, xã B, Tp S, Thái Nguyên
- Chị Dương Thị P, sinh năm 1982; vắng mặt.
Trú tại: Tổ V, phường C, TP S, Thái Nguyên
- Chị Dương Thị T2, sinh năm 1983; vắng mặt.
Trú tại: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên
Chị H1, anh H2, chị P, chị T2 uỷ quyền cho chị Trần Thị H, sinh năm 1980, Trú tại: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên; có mặt
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1980, có mặt
Trú tại: Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên
- Ông Lê Đức C1, sinh năm 1967; bà Hà Thị Tú O, sinh năm 1967; đều trú tại: xóm X, xã B, Tp S, Thái Nguyên; vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố S
Đại diện theo ủy quyền: bà Dương Thị H3; Phó Trưởng phòng tài nguyên và môi trường thành phố; xin vắng mặt
- Trung tâm phát triển quỹ đất TP S, Thái Nguyên
Đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị M- Cán bộ; xin vắng mặt.
- Bà Đoàn Thanh H4, sinh năm 1991; vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ I, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên
- Ngân hàng N1 chi nhánh thành phố S; đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Q- Phó Giám đốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Dương Văn T bà Dương Thị C, Dương Thị Đ trình bày:
Cụ Dương Văn L1, sinh năm 1920, chết ngày 09/9/1989 và cụ Trần Thị K, sinh năm 1923, chết năm 2005, sinh được 04 người con là: Dương Văn L, sinh năm 1952; Dương Thị C, sinh năm 1956; Dương Văn T, sinh năm 1960; Dương Thị Đ, sinh năm 1963.
Cụ L1, cụ K trong thời gian chung sống có khai phá được 6.205m2 đất, trong đó có 400m2 đất ONT, UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/7/1993 mang tên Trần Thị K. Năm 1989, cụ L1 chết không để
lại di chúc. Ngày 13/8/2004, anh Dương Văn T1 là cháu nội cụ K, con đẻ ông Dương Văn L được UBND thị xã (nay là thành phố S) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất nêu trên, các anh em trong gia đình không ai được biết. Sau khi anh T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh T1 đã chuyển nhượng 100 m2 đất ở cho chị Hà Thị Tú O, anh Lê Đức C1, chị O anh C1 được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/5/2005 tại thửa 178b, tờ bản đồ 6-IV xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Ông T và các đồng nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế đối với các thửa đất UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị K ngày 07/7/1993, tại Xóm X, xã B, TP S, Thái Nguyên; Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND thị xã S cấp ngày 13/8/2004 mang tên Dương Văn T1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND thị xã S cấp ngày 25/5/2005 mang tên Hà Thị Tú O và Lê Đức C1 đối với thửa 178b, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 100m2 đất ở.
Các thửa đất yêu cầu chia thừa kế gồm:
- Các thửa đất đã có quyết định thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, gồm: thửa 191, thửa 175, 176, thửa 177, thửa 193, thửa 174, thửa 202, thửa 210, đều thuộc tờ bản đồ 6-IV; địa chỉ: Xóm X, xã B, Tp S, Thái Nguyên. Đề nghị chia di sản thừa kế theo số tiền bồi thường tại các Quyết định đã được phê duyệt, trong đó thửa 210, tờ bản đồ 6-IV đã được chi trả cho anh T1, chị H; các thửa còn lại đang tạm dừng chi trả theo yêu cầu của Tòa án.
- Các thửa đất số 178, 178a, 179a, 179b không thuộc diện thu hồi đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật.
- Các thửa đất thuộc diện thu hồi, nhưng chưa có quyết định thu hồi, gồm: Thửa số 178, diện tích 400m2 đất ở; thửa số 178a, diện tích 2.075m2 đất vườn; thửa số 179a, diện tích 400 đất 1L; thửa số 179b, diện tích 535m2 đất 1L.
Đối với thửa số 50, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 180 m2, đất 1L đã bán cho bà Hà Thị Tú O, ông Lê Đức C1, không yêu cầu giải quyết; Thửa số 192, diện tích 145m2 đất 1L, thửa 188b, diện tích 120m2 đất 1L, đều thuộc tờ bản đồ 6-IV, gia đình thực tế không quản lý sử dụng nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Dương Văn T1, đại diện theo ủy quyền của ông L, bà N, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà N, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Nguồn gốc đất các đồng nguyên đơn tranh chấp là của vợ chồng cụ L1, cụ Trần Thị K, ngày 07/7/1993 UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Trần Thị K tổng diện tích 6.205m2. Năm 2002, cụ K viết giấy giao quyền sử dụng đất cho ông Dương Văn L được thừa kế toàn bộ tài sản. Do ông L tuổi cao, không còn sức lao động, ông L đã viết giấy giao quyền sử dụng đất cho con trai trưởng là anh Dương Văn T1 thừa kế tài sản tổng diện tích là 6.205m2. Ngày 13/8/2004, anh Dương Văn T1 được UBND thị xã S cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 6.205m2, tại xóm X, xã B, thành phố S, Thái Nguyên.
Anh T1, chị H xác định toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị K có nguồn gốc của cụ L1, cụ K. Năm 1989, cụ L1 chết không để lại di chúc, cụ K còn sống đã chuyển nhượng cho anh T1 toàn bộ các thửa đất trên. Ngày 13/8/2004, anh T1 được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 6.205m2.
Các thửa đất đã có quyết định thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng gồm: thửa 191, thửa 175, 176, thửa 177, thửa 193, thửa 174, thửa 202, thửa 210, đều thuộc tờ bản đồ 6-IV, tại: Xóm X, xã B, Tp S, Thái Nguyên. Trong đó, thửa 210, tờ bản đồ số 6-IV đã được chi trả trực tiếp cho anh T1, chị H. Các thửa còn lại đang tạm dừng chi trả theo yêu cầu của Tòa án.
Anh T1, chị H không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn, vì cụ Trần Thị K đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T1 vào ngày 11/6/2004, ngày 13/8/2004 anh T1 đã được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị Tú O trình bày:
Ngày 19/8/2004, bà O nhận chuyển nhượng của ông Dương Văn T1, bà Trần Thị H 100m2 đất thổ cư tại thửa 178, tờ bản đồ 6-IV và 180m2 đất lúa tại thửa số 50, tờ bản đồ 6-IV, tại xóm X, xã B, thành phố S, Thái Nguyên.
Ngày 25/5/2005, vợ chồng bà O, ông C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ 6-IV diện tích 180m2 đất lúa và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 178b, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 100m2 đất ở nông thôn. Bà O đề nghị Tòa án công nhận thửa 50 và thửa 178b thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của gia đình bà.
UBND thành phố Sông Công trình bày:
Trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đã được UBND xã B thẩm tra xác nhận ngày 14 tháng 6 năm 2004, UBND Thị xã S nay là thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A1 62116 ngày 13 tháng 8 năm 2004, mang tên Dương Văn T1 là đúng hồ sơ thiết lập, đúng theo thỏa thuận của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng.
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá ngày 13/12/2021, đất ở tại vị trí tranh chấp có giá 1.080.000 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm có giá 61.000 đồng/m2; đất lúa có giá 70.000 đồng/m2. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, định giá ngày 28/3/2024: Đối với thửa 178b, diện tích 100 m2 đất ODT được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hà Thị Tú O và Lê Đức C1 đã thực hiện thống kê, kê khai và đã thông qua phương án bồi thường, hỗ trợ, đơn giá áp dụng theo quyết định số 151/QĐ-UBND ngày 03 tháng 02 năm 2023 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể để bồi thường, giải
phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn thành phố S; giá đất ở vị trí 1 là: 900.000 đồng/m2
Toàn bộ các thửa đất ruộng do anh T1, chị H quản lý sử dụng; đất ở và công trình trên đất do ông L, bà N, anh T1, chị H quản lý sử dụng.
- Tại Quyết định số 1319/QĐ-UBND ngày 24/5/2022 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất để thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đường D - N (đợt 3) và Quyết định số 1320/QĐ-UBND ngày 24/5/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đường D - N (đợt 3) đã tiến hành thu hồi của hộ anh Dương Văn T1 và chị Trần Thị H:
Thửa đất số 210, tờ bản đồ 6-IV diện tích 515m2 đất lúa (diện tích thực tế thu hồi 545,2m2); tổng số tiền bồi thường: 166.766.200 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 40.890.000đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 3.543.800 đồng; hỗ trợ ổn định đời sống: 6.750.000 đồng, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 114.492.000 đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 1.090.400 đồng). Số tiền này đã được bàn giao cho anh T1, chị H.
- Tại Quyết định số 1751/QĐ-UBND ngày 15/7/2022 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất để thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án các khu dân cư và khu chức năng hai bên tuyến đường du lịch Sông C - N (đợt 4) và Quyết định số 1752/QĐ-UBND ngày 15/7/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án các khu dân cư và khu chức năng hai bên tuyến đường du lịch Sông C - N (đợt 4) đã tiến hành thu hồi của hộ anh Dương Văn T1 và chị Trần Thị H 07 thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00101N do UBND thị xã S cấp ngày 13/8/2004 mang tên Dương Văn T1 (thửa 191, 174, 175, 176, 177, 193, 202 cùng tờ bản đồ 6-IV); tổng số tiền được phê duyệt: 903.663.800 đồng. Cụ thể như sau:
- + Thửa đất số 191, tờ bản đồ 6-IV diện tích 465m2 đất lúa theo Giấy chứng nhận (diện tích thực tế thu hồi được chia thành 03 vị trí với diện tích 76,1 + 162,9 + 56,6=295,6 m2); Tổng số tiền bồi thường: 86.758.600 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 22.170.000đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 1.921.400đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 62.076.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 591.200đồng).
- + Thửa đất số 177, tờ bản đồ 6-IV diện tích 385m2 đất lúa theo Giấy chứng nhận (diện tích thu hồi 239m2); tổng số tiền bồi thường: 70.146.500 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 17.925.000đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp:1.553.500 đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 50.190.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 478.000đồng).
- + Thửa đất số 175, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 135m2 đất lúa và thửa đất số 176, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 180m2 đất đất lúa, tổng diện tích theo Giấy chứng nhận là 315m2 (tổng diện tích thực tế thu hồi cả 02 thửa là 515m2); tổng số tiền
bồi thường: 151.152.500 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 38.625.000đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 3.347.500đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 108.150.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 1.030.000đồng)
- + Thửa đất số 202, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 445m2 đất lúa theo Giấy chứng nhận (diện tích thực tế thu hồi 443,1 m2- thu hồi hết thửa); tổng số tiền bồi thường: 130.049.850 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 33.232.500đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 2.880.150đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 93.051.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 886.200đồng).
- + Thửa đất số 193, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 90 m2 đất lúa theo Giấy chứng nhận (diện tích thực tế thu hồi 90m2); tổng số tiền bồi thường: 26.415.000đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 6.750.000đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 585.000đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 18.900.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 180.000đồng).
- + Thửa đất số 174, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 135m2 đất lúa theo Giấy chứng nhận (diện tích thực tế thu hồi 229,2m2); tổng số tiền bồi thường: 67.270.200 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất:17.190.000 đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 1.489.800đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 48.132.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 458.400đồng)
Các thửa 122, 123, 124 đều cùng tờ bản đồ 23(6-IV), thửa 125 tờ bản đồ 6-IV và 03 thửa chưa được cấp Giấy chứng nhận (thửa 48, 15, 16, tờ bản đồ địa chính mới số I) bị thu hồi không nằm trong phạm vi yêu cầu khởi kiện.
Tổng số tiền hỗ trợ ổn định đời sống đối với 3.075,9m2 đất nông nghiệp bị thu hồi là 6.750.000đồng.
Ngày 23/9/2022, ông L, anh T1, chị H nhận số tiền 173.788.500 đồng đối với 612,1m2 thửa 122,123,124 tờ bản đồ 23(6-IV).
Ngày 05/4/2023: ông L, anh T1, chị H nhận số tiền 140.821.300 đồng đối với 479,8m2 thửa 48 tờ bản đồ 90, diện tích 202,5m2 và thửa 125, tờ bản đồ 6-IV diện tích 277,3m2.
Ngày 10/11/2023, anh T1, chị H nhận số tiền 50.511.350 đồng đối với hai thửa đất số 15, tờ bản đồ 90(6-IV) phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 146,7m2, loại đất LUK và thửa đất số 16, tờ bản đồ 90(6-IV) phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 25,4m2, loại đất LUK, gia đình chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Số tiền còn lại được gửi vào Sổ tiết kiệm số AC 00038452477 ngày 10/11/2023 tại Ngân hàng N1 Chi nhánh thành phố S - Nam T, kỳ hạn gửi 06 tháng, mang tên Đoàn Thanh H4 là cán bộ Trung tâm phát triển quỹ đất với số
tiền 556.662.200đồng (bao gồm tiền gốc còn lại 538.542.650 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 10/11/2023).
- Tại Quyết định số 2246/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất để thực hiện dự án các khu dân cư và khu chức năng hai bên tuyến đường du lịch Sông C - N (khu S) - (đợt 17) và Quyết định số 2247/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 của UBND thành phố S về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án các khu dân cư và khu chức năng hai bên tuyến đường du lịch Sông C - N (khu S) - (đợt 17) tiến hành thu hồi của hộ anh Dương Văn T1 và chị Trần Thị H 03 thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00101N do UBND thị xã S cấp ngày 13/8/2004 mang tên Dương Văn T1 (thửa 178, 178a, 179a cùng tờ bản đồ 6-IV) và một phần thửa 175 tờ bản đồ 6-IV, tổng số tiền được phê duyệt là 2.251.662.150 đồng. Cụ thể như sau:
- + Thửa đất số 178, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 400m2 đất ở; đã chuyển nhượng cho bà O 100m2 (diện tích thực tế 300m2, quyết định thu hồi 300m2); tổng số tiền bồi thường: 270.000.000đồng là tiền bồi thường, hỗ trợ đất.
- + Thửa đất số 178a, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 2.075m2 đất vườn theo Giấy chứng nhận (diện tích thực tế là 2.114,1m2; quyết định thu hồi 1.934,2 m2), còn lại 179,9m2; tổng số tiền bồi thường: 1.169.223.900 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 811.396.900đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 353.958.600đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 3.868.400đồng).
- + Thửa đất số 179a, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 400 m2 đất chè (diện tích thực tế là 400m2; quyết định thu hồi 248,3m2, còn lại 151,7m2); tổng số tiền bồi thường: 62.323.300đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 16.387.800đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 45.438.900đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 496.600 đồng)
- + Thửa đất số 175, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 135m2 đất lúa theo Giấy chứng nhận (diện tích thực tế là 43,7m2; quyết định thu hồi 43,7m2); tổng số tiền bồi thường: 12.825.950 đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ đất: 3.277.500đồng; bồi thường sản lượng đất nông nghiệp: 284.050đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: 9.177.000đồng; thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: 87.400 đồng)
Ngoài ra thu hồi 259,5m2 đất chưa được cấp Giấy chứng nhận với tổng số tiền bồi thường: 65.134.500 đồng; Tổng số tiền hỗ trợ ổn định đời sống là 20.250.000 đồng.
Các diện tích đất thu hồi theo Quyết định 2246 và quyết định 2247 ngày 28/11/2023 của UBND thành phố S với số tiền bồi thường 2.251.662.150 đồng chưa thực hiện chi trả.
Đối với phương án tái định cư:
Hiện nay chưa có quyết định giao đất tái định cư mà chỉ có phương án dự kiến tái định cư cho hộ anh Dương Văn T1, chị Trần Thị H kèm theo Quyết định 2247 ngày 28/11/2023 của UBND thành phố S, có phương án tái định cư bằng diện tích đất ở bị thu hồi là 300m2, dự kiến đơn giá 800.000 đồng/m2. Khi người sử dụng đất có đất bị thu hồi, đã được bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng thì phải nộp tiền sử dụng đất để được giao đất tái định cư. Trường hợp hộ anh Dương Văn T1, chị Trần Thị H là trường hợp có công trình trên đất ở, có người đang quản lý sử dụng đất và phải di chuyển chỗ ở, dự kiến được hưởng đơn giá tại định cư là 800.000 đồng/m2.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn T, bà Dương Thị C, bà Dương Thị Đ đối với bị đơn ông Dương Văn L, anh Dương Văn T1 về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế để chia theo pháp luật là di sản của cụ Dương Văn L1 để lại.
- Ông Dương Văn T, bà Dương Thị C, bà Dương Thị Đ, mỗi người được hưởng số tiền: 118.465.700đồng. Ông Dương Văn L được hưởng số tiền: 153.018.100 đồng. Chị Dương Thị H1, anh Dương Văn H2, chị Dương Thị P, chị Dương Thị T2 mỗi người được hưởng số tiền 4.936.000đồng tại Sổ tiết kiệm số AC 00038452477 ngày 10/11/2023 tại Ngân hàng N1 Chi nhánh thành phố S - Nam T mang tên Đoàn Thanh H4.
Anh Dương Văn T1, chị Trần Thị H được sở hữu toàn bộ số tiền còn lại tại Sổ tiết kiệm số AC 00038452477 ngày 10/11/2023 tính đến ngày 05/8/2024 và toàn bộ lãi phát sinh từ ngày 06/8/2024 đến khi thanh toán xong cho các đương sự.
- Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố S; Ngân hàng N1 Chi nhánh thành phố S; chị Đoàn Thanh H4 có trách nhiệm phối hợp làm thủ tục chi trả cho các bên theo quyết định của Tòa án.
- Giao cho anh Dương Văn T1 được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ các diện tích đất còn lại như sau:
- - Diện tích còn lại 151,7m2 của thửa đất số 179a, tờ bản đồ 6-IV xã B, thành phố S, Thái Nguyên (là đoạn nối các điểm IKLMNPI trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T3).
- - Diện tích còn lại 262,6m2 của thửa đất số 179b, tờ bản đồ 6-IV xã B, thành phố S, Thái Nguyên (là đoạn nối các điểm DEFPNOD trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T3).
- - Diện tích còn lại của thửa đất số 178, tờ bản đồ 6-IV xã B, thành phố S, Thái Nguyên (là đoạn nối các điểm FGSRQHIPF diện tích 159,7m2 và đoạn nối các điểm 1,2,16,14,15,1 diện tích 20,2m2 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T3).
- Diện tích còn lại 79,4m2 của thửa đất số thửa 177 (là đoạn nối các điểm 2,3,4,13,14,16,2 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T3).
- Diện tích còn lại 136,8m2 của thửa đất số 191, tờ bản đồ 6-IV xã B, thành phố S, Thái Nguyên (là đoạn nối các điểm 4,5,6,7,8,18,17,11,12,13,4 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T3).
- Giao cho anh Dương Văn T1, chị Trần Thị H được quyền sở hữu toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo Quyết định số 2246/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất để thực hiện dự án các khu dân cư và khu chức năng hai bên tuyến đường du lịch Sông C - N (khu S) - (đợt 17) và Quyết định số 2247/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 của UBND thành phố S về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án các khu dân cư và khu chức năng hai bên tuyến đường du lịch Sông C - N (khu S) - (đợt 17).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA162116 do UBND thị xã S cấp ngày 13/8/2004 mang tên Dương Văn T1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 950047, số vào sổ 00149N do UBND thị xã S cấp ngày 25/5/2005 mang tên Hà Thị Tú O và Lê Đức C1 đối với thửa 178b, tờ bản đồ 6-IV, diện tích 100m2 đất ở nông thôn, có địa chỉ tại xóm X, xã B, thành phố S, Thái Nguyên.
Ngày 13/8/2024 và ngày 19/8/2024, đồng nguyên đơn, ông Dương Văn T, bà Dương Thị C, Dương Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Nội dung kháng cáo các đồng nguyên đơn cho rằng:
Diện tích đất 6.205 m2, UBND huyện P, tỉnh Bắc Thái cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng cụ L1, cụ K. Năm 1989, cụ L1 chết không để lại di chúc. Năm 2004, cụ K làm hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho anh T1, trong khi cụ K ốm nặng, mất trí nhớ từ năm 2002 là không đúng. Chữ viết Khung trong giấy giao quyền thừa kế cho ông Dương Văn L ngày 20/8/2002 và trong Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ K cho anh T1 ngày 11/6/2004 không phải do cụ K ký và viết ra. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 6.205 m2 đất UBND huyện P cấp cho cụ K là di sản thừa kế của cụ K, cụ L1 và chia thừa kế theo pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên nội dung quan điểm như trình bày tại cấp sơ thẩm. Đồng nguyên đơn có kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm thu thập chữ ký của cụ K để giám định với chữ Khung trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ K cho anh T1 ngày 11/6/2004. Hội đồng xét xử đã quyết định tạm ngừng phiên toà để thu thập mẫu chữ ký và quyết định trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 500/KL-KTHS ngày 20/5/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký “Khung” dưới mục
“Bên chuyển nhượng QSD đất - Vợ” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký “Khung” dưới mục “Người khai ký tên” trên mẫu so sánh ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký ra hay không do đặc điểm ít, thời điểm ký cách xa nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các đồng nguyên đơn; Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Các đồng nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của các đồng nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[2] Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận diện tích đất 6.205 m2, UBND huyện P, tỉnh Bắc Thái cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/7/1993 mang tên cụ Trần Thị K là tài sản chung vợ chồng cụ L1, cụ K. Năm 1989, cụ L1 chết không để lại di chúc.
[3] Bị đơn ông Dương Văn T, anh Dương văn T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn cho rằng, năm 2002, cụ K viết giấy giao quyền sử dụng đất cho ông Dương Văn L được thừa kế toàn bộ tài sản, do ông L tuổi cao, không còn sức lao động, ông L đã viết giấy giao quyền sử dụng đất cho con trai trưởng là anh Dương Văn T1 thừa kế tài sản tổng diện tích là 6.205m2. Ngày 13/8/2004, anh Dương Văn T1 được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 6.205m2, tại xóm X, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Hội đồng xét xử thấy: Diện tích đất 6.205 m2 UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/7/1993 mang tên cụ Trần Thị K các đương sự đều xác định là tài sản chung vợ chồng cụ L1, cụ K. Năm 1989, cụ K chết không để lại di chúc, thì việc định đoạt tài sản là di sản thừa kế của cụ L1 phải được sự đồng ý của hàng thừa kế thứ nhất của cụ L1 là cụ K và 04 người con đẻ của cụ L1. Bị đơn cho rằng, cụ K đã viết giấy thừa kế cho ông L, sau đó ông L viết giấy giao quyền thừa kế cho anh T1 toàn bộ tài sản của cụ L1, cụ K là không đúng quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 về quyền thừa kế.
Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Trần Thị K với anh Dương Văn T1 về việc cụ K tặng cho toàn bộ diện tích 6.205 m2 đất cho anh T1. Hội đồng xét xử thấy:
[4] Tại Giấy giao quyền được thừa kế đề ngày 20/8/2002, nội dung thể hiện cụ Nguyễn Thị K1, sinh năm 1923, trú quán xóm A, X, B, Sông Công, Thái Nguyên, có chồng đã mất năm 1989, đã 80 tuổi, già yếu, không sản xuất được. Đề nghị chuyển quyền sử dụng đất 6.205 m2 cho con trai là Dương Văn L được sự dụng. Ký tên K1, Nguyễn Thị K1. Mặt sau có xác nhận của xóm A, Xuân Đăng ngày 20/8/2002; xác nhận UBND xã B ngày 12/11/2002 (bút lục số 19).
Họ tên đúng của cụ K1 là Trần Thị K, tuy nhiên Giấy giao quyền được thừa kế đều ghi Nguyễn Thị K1 và sau gần 03 tháng kể từ ngày viết giấy giao quyền thừa kế 20/8/2002, ngày 12/11/2002 UBND xã B mới xác nhận qua giấy uỷ quyền xác nhận chữ ký của cụ Nguyễn Thị K1 là đúng là không có căn cứ.
[5] Hồ sơ thể hiện, ngày 11/6/2004, cụ Trần Thị K ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 15 thửa đất, tổng diện tích 6.205 m2, trong đó có 400 m2 đất ở, 2075 m2 đất vườn, còn lại là đất nông nghiệp cho cháu nội là anh Dương Văn T1. Phần bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người chồng ghi đã mất, vợ ghi K, Trần Thị K. Hợp đồng gồm 03 tờ, 06 trang nhưng không có chữ ký của cụ K vào từng trang trong hợp đồng.
Điều 59 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về Công chứng, chứng thực quy định:
Văn bản công chứng, văn bản chứng thực đối với hợp đồng, giao dịch có từ 02 trang trở lên, thì từng trang phải đợc đánh số thứ tự, có chữ ký tắt của ngời yêu cầu công chứng, chứng thực và ngời thực hiện công chứng, chứng thực, riêng trang cuối phải có chữ ký đầy đủ; số lợng trang phải đợc ghi vào cuối văn bản; văn bản công chứng, văn bản chứng thực có từ 2 tờ trở lên phải đợc đóng dấu giáp lai, có từ 10 tờ trở lên còn phải đợc đục lỗ, xâu gáy và gắn xi.
Như vậy, UBND xã B, thị xã S khi thực hiện chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/6/2004, đã không tuân thủ đúng quy định tại Điều 59 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP của Chính phủ về công chứng, chứng thực, nên văn bản chứng thực không có giá trị pháp lý.
[6] Tại kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận không đủ căn cứ xác định chữ ký Khung trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất so với mẫu chữ ký Khung trong tờ khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993 do cùng một người ký ra.
[7] Về thực tế, cụ K có 04 người con, tài sản 02 cụ khai phá được là quyền sử dụng 6.205 m2 đất, nhưng cụ không cho bất kỳ người con nào, tặng cho toàn bộ cho anh T1 là cháu nội, trong khi giữa cụ K và các con không có mâu thuẫn là không hợp lý, hợp tình.
[8] Bên cạnh đó, bị đơn ông L, anh T1 đều khai năm 2002, cụ K viết giấy giao quyền sử dụng đất cho ông Dương Văn L được thừa kế toàn bộ tài sản, do
ông L tuổi cao, không còn sức lao động, ông L đã viết giấy giao quyền sử dụng đất cho con trai trưởng là anh Dương Văn T1 thừa kế tài sản tổng diện tích là 6.205m2, chứ không phải là việc cụ K tặng cho trực tiếp cho anh T1.
[9] Từ những phân tích nêu trên thấy, Toà án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ K đã tặng cho anh Dương Văn T1 và chỉ chấp nhận chia di sản của cụ L1 cho các đồng thừa kế là không có căn cứ.
Để đảm bảo nguyên tắc 02 cấp xét xử và bảo đảm thực hiện quyền kháng cáo của đương sự, thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đồng nguyên đơn; huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Sông Công giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật. Khi giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ, tài liệu gì mới thì phải xác định tổng diện tích đất 6.205 m2 là di sản thừa kế của cụ L1, cụ K để phân chia thừa kế cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Về án phí:
[10] Án phí phúc thẩm: Đương sự kháng cáo được chấp nhận, nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
[11] Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét và quyết định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Từ những nhận định nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Dương Văn T, bà Dương Thị C, Dương Thị Đ; huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 05/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Sông Công giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí:
Án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Dương Văn T, bà Dương Thị C, Dương Thị Đ không phải chịu án phí phúc thẩm.
Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét và quyết định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND thành phố Sông Công; - Chi cục THADS thành phố Sông Công; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Quý Sửu |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Văn Quế Nguyễn Thị Thủy |
Hoàng Q1 Sửu |
Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 97/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn Tuyến - Dương Văn Luyến - Tranh chấp thừa kế
