|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 97/2024/HSST Ngày 30 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thoại;
- Bà Võ Thị Hoa Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Đức V (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 21/4/1999, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Q, sinh năm 1959 và con bà Phan Thị C, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ năm; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, đến ngày 05/4/2024 thì chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị(Hiện đang bị tạm giam trong một vụ án khác), vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
(1) Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 27/3/2024, bị cáo Nguyễn Đức V (V sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, số điện thoại 0819.144.xxx của V gọi đến số điện thoại 0777.759.xxx của Nguyễn Ngọc D1 năm: 1994, trú tại: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ (D, hỏi mua 300.000 đồng ma túy tổng hợp hồng phiến thì D2 ý. V sử dụng ứng dụng smartbanking chuyển khoản 300.000 đồng vào tài khoản của D Sau đó, V1 khiển xe mô tô biển kiểm soát: 74C1-446.36 đến nhà D3 lấy ma tuý. Khi đến, V2 D từ trong nhà đi ra rồi để 01 mảnh giấy bạc được cuộn tròn lại trên thành tường rào nhà D Vĩnh tiến đến lấy giấy bạc được cuộn tròn cất giấu tại tay trái rồi điều khiển xe mô tô tìm nơi sử dụng. Khi đến Kiệt B- L, Khu phố H, Phường E, thành phố Đ lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ và thu giữ vật chứng trên.
(2) Vật chứng thu giữ:
- 10 viên nén hình trụ tròn, màu hồng được gói trong 01 mảnh giấy bạc
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus và 01 xe mô tô BKS 74C1-446.36.
(3) Xét nghiệm chất ma túy đối với người sử dụng ma túy, kết quả: V dương tính với ma túy M
(4) Kết quả giám định: Tại bản Kết luận giám định số: 450/KL-KTHS ngày 03/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 10 viên nén màu hồng, hình trụ tròn gửi đến giám định, có khối lượng 0,9646gam là ma túy, loại Methamphetamine.
(5) Truy tố: Cáo trạng số 102/CT-VKS-ĐH ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
(6) Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V3 17 đến 19 tháng tù.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ ma túy, bao gói hoàn lại sau giám định.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 74C1-446.36 và 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo và người làm chứng không có khiếu nại gì.
[II] Nội dung vụ án:
(1) Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức V4 nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà bị cáo đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số 102/CT-VKS-ĐH ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở, kết luận: Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 27/3/2024, tại Kiệt B- L, Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Đức V đang tàng trữ (Cất giấu ở tay trái) 0,9646gam Ma túy loại Methamphetamine, với mục đích duy nhất là để sử dụng. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lí của nhà nước về việc sử dụng chất ma túy với mục đích chữa bệnh mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.
(2) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Năm 2019, V tham gia nghĩa vụ quân sự được Trung đoàn B33 tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thực hiện phong trào thi đua Quyết thắng” nên phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ và cần thiết
Thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành án; Để đảm bảo thi hành án cần tạm giam bị cáo 45 ngày.
(3) Hành vi bán ma túy cho Nguyễn Đức V5 Nguyễn Ngọc D: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khởi tố vụ án hình sự khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
(4) Về vật chứng:
- Ma túy, bao bì hoàn lại sau giám định- là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ.
- Chiếc xe mô tô và 01 điện thoại di động đều thuộc quyền sở hữu của V6 liên quan đến hành vi phạm tội của V7 vụ án này nên phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[III] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì ký kiệu: QT-S450, bên ngoài có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong.
- * Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 74C1-44636, số khung 391XLY028991, số máy: JA39E1363292;
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng hồng, số IMEI: 355724070621699.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nguyễn Đức V 19 (Mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 27/3/2024.
Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 7 năm 2024
Buộc bị cáo Nguyễn Đức V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |
Bản án số 97/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 97/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức V phạm tội Tàng trứ trái phép chất ma túy
