Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 23-10-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Huyền.
  2. Ông Trần Xuân Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn H (tên gọi khác: không); sinh năm: 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Q (chết) và bà Vũ Thị V; vợ: Hồ Thị N và 04 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất năm 2023; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H: Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1960. Nghề nghiệp: Luật sư - Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Địa chỉ: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị hại: Bà Lê Thị N2 (chết).

Đại diện theo pháp luật của bà Lê Thị N2:

  1. Ông Hồ Sỹ C, sinh năm 1966. Vắng mặt.
  2. Ông Hồ Sỹ N3, sinh năm 1966. Vắng mặt.
  3. Bà Hồ Thị N4, sinh năm 1969. Vắng mặt.
  4. Bà Hồ Thị L, sinh năm 1971. Vắng mặt.
  5. Bà Hồ Thị P, sinh năm 1980. Vắng mặt.
  6. Ông Hồ Sỹ N5, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  1. Bà Hồ Thị B, sinh năm 1974. Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Bà Hồ Thị T, sinh năm 1977. Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của các ông N3, N5 và các bà N4, L, P, Bản, T: Ông Hồ Sỹ C, sinh năm 1966. Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1992. Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Hồ Trọng T1, sinh năm 1973. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn H có Giấy phép lái xe hạng A1, D số [...] do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 12/8/2019 có giá trị đến ngày 12/8/2024. Sáng sớm ngày 05/7/2024, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Corolla biển kiểm soát 11A - 009.75 đi từ đường Q rẽ phải lên đường quốc lộ 48E về hướng UBND xã Q. Đến khoảng 05h07 phút cùng ngày, bà Lê Thị N2 đi bộ qua đường quốc lộ 48E theo hướng Bắc - N, H điều khiển xe đi đến gần Km19 đường quốc lộ 48E phát hiện thấy 01 (một) xe ô tô tải đi ngược chiều, khi đi qua xe ô tô tải, H điều khiển xe lấn vào khu vực giữa đường quốc lộ 48E và lấn sang một phần đường bên trái theo hướng di chuyển của H và tiếp tục di chuyển về phía trước. Do không chú ý quan sát nên H không phát hiện được bà N2 ở phía trước đang di chuyển sang đến khu vực giữa đường, đến khi còn ở khoảng cách gần Hoành mới phát hiện thấy bà N2 ở phía trước đầu xe, H phanh xe nhưng không kịp. Đầu xe bên trái do H điều khiển va chạm với phần phía dưới bên phải người bà N2, bà N2 bị hất văng về phía trước, nằm bất tỉnh. Hậu quả, bà N2 bị thương được đưa đi cấp cứu và sau đó bị tử vong.

Kết luận giám định tử thi số 156/KLGĐTT-KTHS ngày 14/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: nguyên nhân bà Lê Thị N2 chết do xuất huyết dưới nhện hai bán cầu đại não, gãy xương cánh tay phải và 02 xương cẳng tay phải do chấn thương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn được xác định tại Km 29+36m quốc lộ D thuộc thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Mặt đường tương đối bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, đường có chiều rộng 8,7m, chia đôi đường bằng vạch kẻ đường màu vàng ngắt quảng.

Kết luận giám định số 221/KL-KTHS(DVCH) ngày 23/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển số 11A-009.75 di chuyển trên cả hai 2 phần đường quốc lộ 48E theo hướng từ thị xã H đi UBND xã Q, bà Lê Thị N2 ở trên đường Q, phần mặt trước cơ thể hướng về phía Bắc, mặt sau cơ thể hướng về phía nam, không xác định được chính xác phần đường di chuyển của bà N2.

Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 11A-009.75 với bà Lê Thị N2:

  • + Trên hiện trường: ở trên đường Q nhưng không xác định được chính xác vị trí va chạm thuộc phần đường nào.
  • + Trên xe ô tô biển số 11A-009.75 ở mặt trước bên trái phần đầu xe.
  • + Trên cơ thể bà Lê Thị N2 ở phần phía dưới bên phải cơ thể.

Không xác định được chính xác góc độ va chạm giữa xe ô tô biển số 11A-009.75 với bà Lê Thị N2.

Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 11A-009.75 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

Không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.

Sau tai nạn, Lê Văn H bồi thường cho gia đình bị hại bà Lê Thị N2 số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng).

Bản cáo trạng số 99/CT-VKS-QL ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H 12-15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24-30 tháng.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự va Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 11A-099.75, 01 (một) Giấy đăng ký xe ô tô số 002080, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DB 1328244 của xe ô tô 11A-009.75, 01 (một) Giấy phép lái xe cho bị cáo Lê Văn H.

Án phí: miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội được cải tạo ngoài xã hội, có điều kiện đi lại thăm nom gia đình bị hại và nuôi dưỡng con cái.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: xin được nhận lại xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo có giấy phép lái xe hạng A1, D, vào lúc 05h07 phút ngày 05/7/2024 tại Km 19+36 đường Q thuộc thôn A, xã Q, huyện Q, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11A - 009.75 đi theo hướng từ thị xã H đi UBND xã Q, do không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ, đi lấn sang phần đường bên trái nên va chạm với bà Lê Thị N2, làm bà N2 tử vong. Bị cáo có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 và khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, thể hiện sự ăn năn hối cải, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, thì từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Hình phạt bổ sung: để tạo cho bị cáo có điều kiện đi lại, khắc phục khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Corola biển số 11A-099.75, 01 (một) Giấy đăng ký xe ô tô số 002080, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DB 1328244 của xe ô tô 11A-009.75, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo nên trả lại cho bị cáo và bà Hồ Thị N. Bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe số [...].

[6] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại, đã thỏa thuận bồi thường xong. Không ai có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là đối tượng được hưởng chế độ hộ nghèo, hộ cận nghèo (Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 6336/GCN-HN.HCN ngày 01/01/2022 giai đoạn 2021-2025), có đơn xin miễn án phí, nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Văn H và bà Hồ Thị N 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota - Corola biển số 11A-099.75, 01 (một) Giấy đăng ký xe ô tô số 002080, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DB 1328244 của xe ô tô 11A-009.75 (tình trạng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu). Trả lại 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 15/8/2024 (có tại hồ sơ vụ án) cho bị cáo Lê Văn H.

3. Án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn H.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CA huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND xã Quỳnh Tân (để biết);
  • - Bị cáo, đại diện bị hại;
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger