|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày: 30 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Vinh
Bà Mai Thị Viện
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm dưới hình thức trực tuyến từ điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Thanh Húa đến điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 22/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 14/5/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L
(tức Nguyễn Quang S) – sinh năm 1971, tại huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, TP N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đ và bà Lê Thị H (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/7/1992, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt bị cáo 16 năm tù về tội “Phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”; Hiện đang chấp hành án về tội “Phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” từ ngày 02/10/2023; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Trịnh Minh L1, sinh năm: 1961, vắng mặt.
Địa chỉ: Số A Bà T, phường H, thành phố T.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Đới Sỹ A, ông Lê Hải D – Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 3/1990 đến tháng 5/1991, Nguyễn Văn L đã cùng các đối tượng khác gây ra 17 vụ trộm cắp dây cáp điện tại các trạm biến thế trên địa bàn huyện Đ, huyện T và huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 07/6/1991, Nguyễn Văn L bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ bắt khẩn cấp và ra Lệnh tạm giữ số 116. Đến ngày 08/6/1991, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với L về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, theo quy định tại Điều 94 Bộ luật hình sự năm 1985 và ra lệnh tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Sau đó vụ án được chuyển đến Phòng Cảnh sát điều tra (Phòng PC16) Công an tỉnh T để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 08/8/1991, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Lệnh gia hạn tạm giam lần thứ nhất số 57/KSĐT đối với Nguyễn Văn L trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày 09/8/1991 đến ngày 09/12/1991.
Ngày 19/11/1991, ông Nguyễn Hữu T1 và ông Trịnh Minh L1 – Điều tra viên thuộc Phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (được phân công thụ lý vụ án nêu trên), đến Trại tạm giam Công an tỉnh T làm thủ tục trích xuất Nguyễn Văn L và 01 bị can khác trong vụ án để tiến hành hỏi cung bị can. Ông Nguyễn Hữu T1 trực tiếp hỏi cung Nguyễn Văn L tại phòng hỏi cung, còn ông Trịnh Minh L1 hỏi cung 01 bị can khác tại phòng bên cạnh. Trong quá trình làm việc, ông Nguyễn Hữu T1 có việc cá nhân đã đi ra ngoài phòng hỏi cung. Lợi dụng sơ hở của ông Nguyễn Hữu T1, L đã mở cửa phòng hỏi cung rồi lẻn đi ra phía sau Trại tạm giam để bỏ trốn. Khi ra đến đoạn đường sắt giao nhau với đường bộ, L nhờ một người lái xe ôm chở về nhà ở xã Đ, huyện Đ. Lúc này nhà L không có ai ở nhà, L lấy vài bộ quần áo và một ít tiền rồi đi đến ga Y, huyện N, sau đó lên tàu hoả đi vào các tỉnh phía Nam để bỏ trốn.
Sau khi L bỏ trốn, ngày 20/11/1991, Phòng CSĐT Công an tỉnh T Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 29 và Quyết định khởi tố bị can số 65 đối với Nguyễn Văn L về tội “Trốn khỏi nơi giam”, theo quy định tại Điều 245 BLHS năm 1985. Ngày 25/11/1991, Phòng CSĐT (PC16) Công an tỉnh T Quyết định truy nã số 546/CSĐT đối với Nguyễn Văn L. Đến ngày 05/12/1991, Phòng CSHS (PC14) Công an tỉnh T ra Lệnh truy nã số 196/LTN đối với L.
Trong quá trình lẩn trốn, Nguyễn Văn L đi tàu hoả đến tỉnh Đắk Lắk. Sau đó vài ngày thì tiếp tục đi đến tỉnh Bình Dương và xin làm lao công, bốc vác tại các khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương. Tại đây, L quen biết chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975, quê ở xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa rồi chung sống với nhau như vợ chồng. Năm 2006, L cùng chị T đến sinh sống ở Phường P, TP N, tỉnh Khánh Hòa. Đến năm 2011, L cùng vợ con chuyển đến thôn P, xã P, TP N, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình lẩn trốn L sử dụng tên giả là Nguyễn Quang S và làm nghề tự do để kiếm sống. Đến ngày 02/10/2023, L bị Phòng C Công an tỉnh T bắt giữ. Sau đó, Cơ quan Thi hành án hình sự và HTTP Công an tỉnh T đã áp dụng Quyết định thi hành hình phạt tù số 19/THA ngày 10/11/1995 của TAND tỉnh Thanh Hoá và đưa L đến chấp hành án tại Trại giam S1 – Bộ C1.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can về tội “Trốn khỏi nơi giam” đối với Nguyễn Văn L. Ngày 18/3/2024 Cơ quan CSĐT đã trích xuất Nguyễn Văn L về Trại tạm giam Công an tỉnh T để phục vụ quá trình điều tra.
Các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:
Hồ sơ cán bộ lưu trữ tại Phòng Tổ chức cán bộ Công an tỉnh T không có tài liệu thể hiện ông Nguyễn Hữu T1 và ông Trịnh Minh L1 bị xem xét xử lý trách nhiệm trong việc để Nguyễn Văn L bỏ trốn khỏi Trại tạm giam vào ngày 19/11/1991. Hiện nay, ông Nguyễn Hữu T1 đã chết, ông Trịnh Minh L1 không phải là người được giao quản lý, giám sát Nguyễn Văn L nên không xem xét trách nhiệm.
Do vụ án đã xảy ra từ năm 1991 nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không có kiến nghị với Trại tạm giam hoặc cá nhân, tổ chức có liên quan về việc Nguyễn Văn L bỏ trốn khỏi Trại tạm giam.
Vụ án “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” ngày 08/07/1992 TAND tỉnh Thanh Hóa đã xét xử Nguyễn Văn L 16 năm tù giam. Hiện Liêm đang thi hành án tại trại giam S1 - Bộ C1.
Đối với tài liệu do CQCSĐT Công an tỉnh G cung cấp dựa trên những tài liệu về vụ “Cướp tài sản”. Hiện Liêm không thừa nhận, vì vậy CQCSĐT Công an tỉnh T đã có công văn số 1087 ngày 08/04/2024 gửi CQCSĐT Công an tỉnh G để phối hợp giải quyết. Nếu có căn cứ sẽ xử lý bằng vụ án khác.
- * Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS-P2 ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1985 (nay là khoản 1 Điều 386 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017).
- * Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù; tổng hợp với 16 năm tù tại Bản án số 99 ngày 08/7/1992. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là từ 17 năm 06 tháng đến 18 năm tù.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Thấy đủ cơ sở khẳng định: Nguyễn Văn L đang bị tạm giam về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Ngày 19/11/1991 lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý, giám sát Nguyễn Văn L đã bỏ trốn khỏi Trại tạm giam Công an tỉnh T. Ngày 20/11/1991 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã khởi tố vụ án, bị can đối với Nguyễn Văn L về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1, Điều 245 BLHS năm 1985 và ra quyết định truy nã. Ngày 02/10/2023 Phòng C Công an tỉnh T đã bắt được Nguyễn Văn L theo lệnh truy nã.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1985. Thực hiện các quy định có lợi cho bị cáo theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo như trên là đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây trở ngại cho sự hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thực hiện trót lọt tội phạm và trốn tránh pháp luật, gây mất trật tự trị an chung, cần phải xử lý nghiêm minh.
[4]. Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần TNHS cho bị cáo. Vì bị cáo thành khẩn khai báo.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án, thì việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Căn cứ khoản 1 Điều 56; điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt của Bản án số 99 ngày 08/7/1992 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 386; Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
-
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L (tức Nguyễn Quang S) phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 15 tháng tù. Tổng hợp với 16 năm tù tại Bản án số 99 ngày 08/7/1992 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án 17 (mười bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 02/10/2023. Nhưng được trừ thời gian tạm giam của bản án trước từ ngày 08/6/1991 đến ngày 19/11/1991.
- - Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
-
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
6
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM ND PHIÊN TÒA Lê Quang Vinh Mai Thị V |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Lê Thị T2 |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội trốn khỏi nơi giam, giữ)
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trốn khỏi nơi giam, giữ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L đang bị tạm giam về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Ngày 19/11/1991 lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý, giám sát Nguyễn Văn L đã bỏ trốn khỏi Trại tạm giam Công an tỉnh T. Ngày 20/11/1991 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã khởi tố vụ án, bị can đối với Nguyễn Văn L về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1, Điều 245 BLHS năm 1985 và ra quyết định truy nã. Ngày 02/10/2023 Phòng C Công an tỉnh T đã bắt được Nguyễn Văn L theo lệnh truy nã.
