Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày 07 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Khẹt và bà Nguyễn Thị Hương;

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lò Văn C, sinh 08/9/1994; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn X, sinh 1972 và bà Lò Thị S, sinh 1973; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: có 02 tiền án (ngày 15/4/2015 bị Toà án nhân dân huyện M xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/7/2017 bị Toà án nhân dân huyện Mường La xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; tiền sự: không; Nhân thân: đang bị khởi tố, điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/02/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
  2. Lèo Văn D, sinh 17/9/1995; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lèo Văn Q, sinh 1974 và bà Lò Thị H, sinh 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

Cầm Văn K, sinh năm 2000, nơi cư trú: bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

Lò Văn C1, sinh năm 1995, nơi cư trú: bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

Người đại diện uỷ quyền của Lò Văn C1 là Cầm Văn K, nơi cư trú: bản Bằng Phột, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ngô Xuân Đ, sinh 1983 và Bùi Thị H1, sinh 1979, nơi cư trú: bản Giàn, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

Lò Văn K1, sinh 2003; Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

- Người làm chứng:

Lèo Văn Đ1, sinh 1998 ; Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

Lò Văn K2, sinh 2003 ; Nơi cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

Lò Văn K1, sinh 2001; Quàng Văn Đ2, sinh 1999; Quàng Văn T, sinh 2000 ; Đều cư trú: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

Lò Thị T1, sinh 1999; Nơi cư trú: Bản Mòn, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 20/12/2023, Lò Văn C, Lèo Văn D, Lò Văn K1, Lèo Văn Đ1, Quàng Văn Đ2, Lò Văn K2, Quàng Văn T và Lò Thị T1, đến quán của anh Ngô Xuân Đ ăn cơm, uống rượu và hát Karaoke đến khoảng 21 giờ 50 phút thì C, Lèo Văn Đ1, Lò Văn K1 ra quầy chờ thanh toán thì có Lò Văn C1 và Cầm Văn k đến thuê phòng hát; trong lúc chờ phòng hát, Cầm Văn K ra ngoài nghe điện thoại thì C và C1 xảy ra mâu thuẫn xô đẩy, đánh nhau bằng tay, thấy đánh nhau Lò Văn K1 và Lèo Văn Đ1 tự ý vào dùng tay đấm C1, K1 bị C1 đấm vào mặt nên lùi ra ngoài, cùng lúc anh Cầm Văn K vào can ngăn thì Lèo Văn Đ1 chạy vào phòng hát nói với D “C đánh nhau” D cầm theo M ra ngoài rồi lao vào đập từ trên xuống về phía đầu Cẩm 02 cái rồi ném M đi, tiếp tục lấy chai bia (chai thuỷ tinh còn nguyên bia) của quán ném, ép C1 và Cầm Văn K sát vào tường, C liền cầm chai bia đập vào phần thái dương bên trái của Cầm Văn K khiến chai bia bị vỡ, D cũng cầm chai bia đập vào đầu K nhưng K đưa tay ra đỡ được, D tiếp tục đập chai bia vào đầu C1, C1 đưa tay ra đỡ trượt qua đầu, C tiếp tục lấy chai bia khác đập vào đầu C1 khiến chai bia vỡ, lúc này D cầm chai bia vừa chửi vừa bắt K quỳ xuống nhưng K không quỳ nên D cầm chai bia đập vào vùng trán K, khiến K choáng váng ngồi xuống, D tiếp tục đập nhưng K dùng tay che đầu nên đỡ được những lần đập sau, C tiếp tục cầm chai bia đập thêm một lần nữa vào đầu C1 khiến chai bia bị vỡ; thấy Lò Văn C1 và Cầm Văn k bị thương tích và chảy máu,

C và D ra về. Sau đó, C1 và K được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh S từ 23 giờ 35 phút ngày 20/12/2023 đến ngày 25/12/2023 C1 ra viện, ngày 29/12/2023 K ra viện.

Ngày 21/12/2023, Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, trích xuất và sao lưu dữ liệu đoạn video từ Camera an ninh của gia đình anh Ngô Xuân Đ vào 01 USB lưu trữ ghi sự việc xảy ra thời gian từ 21 giờ 53 phút 48 giây đến 22 giờ 00 phút 00 giây, đồng thời trưng cầu giám định video, kết quả video không cắt ghép, nội dụng xác định nguyên nhân mâu thuẫn do C có lời nói và hành động trước, các nội dung khác đồng nhất với lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng. Xem xét dấu vết thân thể đối với Lò Văn C1 (vết thương tại vùng trán kích thước 3cm chảy máu; chụp cắt lớp vi tính hình ảnh tụ máu dưới màng cứng vùng trán kích thước 15 x 4mm) và Cầm Văn K (01 vết thương mềm vùng trán thái dương kích thước (1,5 x 1,4) cm, nham nhở phức tạp, nhiều mảnh thuỷ tinh nhỏ, bong lóc, chảy máu; 01 vết thương vùng trán 03cm, chảy máu). Lò Văn C, Lèo Văn D, Lò Văn K1, Lèo Văn Đ1, Quàng Văn Đ2 đều không khám điều trị, không phát hiện thấy có dấu vết trên thân thể; thu giữ vật chứng là 02 đầu cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu xanh; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng, quanh cổ chai có dán giấy bạc có dòng chữ TIGER; 48 mảnh thuỷ tinh, màu xanh không rõ hình dạng; 11 mảnh thuỷ tinh mầu trắng không rõ hình dạng; 01 Micro bằng kim loại, hình trụ tròn màu đen, xám; đồng thời trưng cầu giám định pháp y về thương tích.

Ngày 30/01/2024 Lò Văn C1 và Cầm Văn k có đơn đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lò Văn C, Lèo Văn D; Lò Văn C1 yêu cầu C, D trả tiền viện phí, bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 20.000.000VNĐ; Cầm Văn khởi yêu cầu C, D trả tiền viện phí, bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 100.000.000VNĐ.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 30/KLTTCT-TTPY và 31/KLTTCT-TTPY, ngày 19/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S, kết luận: “sẹo vết thương phần mềm vùng đầu (xếp: 04%). Tỷ lệ tổn thương của Lò văn C2 tại thời điểm giám định là 04% (Bốn phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích sẹo vết thương phần mềm vùng đầu do tác động trực tiếp của vật tầy cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây ra”; “sẹo vết thương phần mềm vùng trán (xếp: 06%); sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái (xếp: 03%). Tỷ lệ tổn thương của Cầm Văn K tại thời điểm giám định là 09% (Chín phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích vùng mặt của Cầm Văn K là do tác động của vật cứng có cạnh gây nên”.

Thực hiện điều tra đối với Lò Văn K1, Lèo Văn Đ1, Lò Văn K2 và Quàng Văn Đ2, xác định: khi thấy C và C2 xô đẩy đánh nhau K1, Đ1 đã tự ý tham gia dùng tay đánh C2, C2 được đánh trả lại nhưng không để lại thương tích, chưa ai có tiền án, tiền sự, không có ai yêu cầu đề nghị gì khác, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K1, Đ1 và C2.

Anh Ngô Xuân Đ và chị Bùi Thị H1 xác định: việc xô đẩy đánh nhau tại quán K3, anh chị không được chứng kiến, thiệt hại xảy ra khoảng 100.000VNĐ và bị thu giữ 01 M, anh chị đề nghị xin nhận lại M, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác.

Ngày 27/3/2024, chị Lò Thị S (mẹ đẻ của bị cáo C) đã đại diện gia đình hỗ trợ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Cầm Văn K 9.000.000VNĐ; chị Lò Thị H (mẹ đẻ của bị cáo D) đã đại diện gia đình hỗ trợ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Cầm Văn K 9.000.000VNĐ. Lò Văn K1 hỗ trợ Cầm Văn Khởi 2.000.000VNĐ.

Bản cáo trạng số: 50/CT-VKS-ML ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và Lèo Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu đó là do nhận thức hạn chế, khi sử dụng rượu, bia không kiểm chế cảm xúc nên đã vi phạm pháp luật, các bị cáo xin hưởng sự khoan hồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lò Văn C và Lèo Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lò Văn C từ 30 đến 36 tháng tù.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lèo Văn D từ 12 đến 18 tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 02 đầu cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu xanh; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng, quanh cổ chai có dán giấy bạc có dòng chữ TIGER; 48 mảnh thuỷ tinh, màu xanh; 11 mảnh thuỷ tinh mầu trắng. Trả lại 01 Micro bằng kim loại, hình trụ tròn màu đen, xám cho anh Ngô Xuân Đ và chị Bùi Thị H1; Áp dung khoản 1 Điều 90, 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục lưu giữ và bảo quản: 01 USB chứa đoạn Video ghi sự việc xảy ra. Căn cứ Điều 584; 585; 590 Bộ luật Dân sự chấp nhận các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại K1 số tiền 18.000.000VNĐ, chấp nhận anh Lò Văn K1 hỗ trợ cho anh K1 số tiền 2.000.000VNĐ; buộc các bị cáo phải tiếp tục bồi thường theo quy định của pháp luật. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo Lò Văn C tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Lèo Văn D tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Cầm Văn K và đại diện uỷ quyền của bị hại Lò Văn C1 tranh luận: nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 18.000.000VNĐ, đề nghị bồi thường tiếp theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xin nhận lại M và không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị hại Lò Văn C1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt; xét thấy lời khai trong hồ sơ đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định, lời khai bị hại, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: khoảng 21 giờ 53 phút ngày 20/12/2023, tại quán hát Karaoke của anh Ngô Xuân Đ ở bản G, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Lò Văn C tạo mâu thuẫn xô đẩy, đánh nhau với Lò Văn C1; thấy đánh nhau Lò Văn K1 và Lèo Văn Đ1 tự ý vào dùng tay đấm C1, Lò Văn K1 bị C1 đấm vào mặt nên lùi ra ngoài cùng lúc anh Cầm Văn K vào can ngăn thì Lèo Văn D từ phòng hát cầm theo Micro ra lao vào đập từ trên xuống về phía đầu Cẳm 02 cái rồi ném M đi, C1 và Cầm Văn K bị ép sát vào tường, C liền cầm chai bia đập vào phần thái dương bên trái của Cầm Văn K khiến chai bia bị vỡ, D cũng cầm chai bia đập vào đầu K nhưng K đưa tay ra đỡ được, D tiếp tục đập chai bia vào đầu C1, C1 đưa tay ra đỡ trượt qua đầu, C tiếp tục lấy chai bia khác đập vào đầu C1 khiến chai bia vỡ, lúc này D cầm chai bia vừa chửi vừa bắt K quỳ xuống nhưng K không quỳ nên D cầm chai bia đập vào vùng trán K, khiến K choáng váng ngồi xuống, D tiếp tục đập nhưng K dùng tay che đầu nên đỡ được những lần đập sau, C tiếp tục cầm chai bia đập thêm một lần nữa vào đầu C1 khiến chai bia bị vỡ rồi ra về. Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 30/KLTTCT-TTPY và 31/KLTTCT-TTPY ngày 19/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S, kết luận: “sẹo vết thương phần mềm vùng đầu (xếp: 04%). Tỷ lệ tổn thương của Lò Văn C1 tại thời điểm giám định là 04% (Bốn phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích sẹo vết thương phần mềm vùng đầu do tác động trực tiếp của vật tầy cứng, diện tiếp xúc giới hạn gây ra”; “sẹo vết thương phần mềm vùng trán (xếp: 06%); sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái (xếp: 03%). Tỷ lệ tổn thương của Cầm

Văn K tại thời điểm giám định là 09% (Chín phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích vùng mặt của Cầm Văn K là do tác động của vật cứng có cạnh gây nên”. Như vậy, bị cáo Lò Văn C và Lèo Văn D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý sử dụng Micro, chai bia là “Hung khí nguy hiểm” xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây thương tích cho anh C1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% và anh K với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9% nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn C và Lèo Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lò Văn C đã được cải tạo giáo dục nhiều lần: ngày 15/4/2015 bị kết án về tội “ Trộm cắp tài sản” bị cáo chưa được xoá án tích lại tái phạm, ngày 20/7/2017 bị xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; ngày 11/02/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về địa phương đến ngày 20/12/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thì bị cáo C chưa được xoá án tích lại cố ý phạm tội, theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 53 Bộ luật Hình sự “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” đã phạm tình tiết định khung tăng nặng tại điểm d khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự, “Tái phạm nguy hiểm”.

Bị cáo Lèo Văn D đã không xác định nguyên nhân mà chỉ thấy C và C1 đánh nhau là tham gia đánh cùng C, bị cáo đã sử dụng M, chai bia đánh vào đầu, mặt là phần trọng yếu của cơ thể, bị cáo tấn công cả người can ngăn (anh Cầm Văn K) và thể hiện sẽ tấn công nạn nhân đến cùng nhất là khi bị cáo yêu cầu anh K quỳ, anh K không quỳ bị cáo tiếp tục sử dụng chai bia đập thêm 03 phát và đạp anh K cho đến khi anh K khuất phục mới thôi, thể hiện sự coi thường những quy tắc trong cuộc sống đã phạm 02 tình tiết định khung tăng nặng tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, “Hung khí nguy hiểm”, “Có tính chất côn đồ”. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm; i) Có tính chất côn đồ. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: d) Tái phạm nguy hiểm”.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Lò Văn C đã được cải tạo giáo dục, rèn luyện bản thân 02 lần, được tái hoà nhập cộng đồng nhưng không thấy đó làm bài học để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện mà trong thời gian chưa được xoá án tích bị cáo C đã kiếm cớ, tạo lý do (cho rằng C1 “nhìn đểu”), gây mâu thuẫn; nhằm mục đích gây thương tích cho người khác, bị cáo C và bị cáo Lèo Văn D cùng sử dụng “Hung khí nguy hiểm” đập liên tục vào vùng trán, đầu nạn nhân đặc biệt các bị cáo đánh, đập cả người can ngăn buộc họ phải khuất phục là một sự vô lý, thể hiện tính chất côn đồ, coi thường những quy tắc trong cuộc sống dẫn đến hậu quả tổn thương cơ thể anh C1 là 04% và anh K là 09%. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chưa được coi là có tổ chức, theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo là

đồng phạm giản đơn, trong đó C giữ vai trò chính cũng là người thực hành tích cực cùng với Lèo Văn D nên các bị cáo phải chịu chung trách nhiệm. Hành vi cố ý gây thương tích của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, cố ý thực hiện tội phạm. Tội phạm bị cáo C thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo D là ít nghiêm trọng nhưng đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra không những xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, làm tổn hại đến sức khoẻ, tinh thần của người khác mà còn ảnh hưởng đến chính sách về cải tạo, giáo dục người phạm tội của Nhà nước, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương nên Cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết các bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lò Văn C là người kiếm cớ, tạo lý do (nguyên cớ nhỏ nhặt), bị cáo Lèo Văn D không xác định nguyên nhân mà cùng C sử dụng “Hung khí nguy hiểm” tấn công liên tục nạn nhân (sử dụng chai bia đập vào đầu dẫn đến vỡ chai bia lại lấy chai bia khác để tấn công), việc sử dụng chai bia tấn công vào phần đầu, mặt là vùng trọng yếu của cơ thể của nạn nhân và cả người can ngăn nên bị cáo C đã phạm tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với Lèo Văn D, tình tiết “ Có tính chất côn đồ” đã được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt nên không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại (tác động gia đình bồi thường); thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (luôn chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn cải tạo mình thành người tốt); bị cáo D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, xét cho bị cáo C được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Lèo Văn D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là người dân lao động, người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, xa, nhận thức pháp luật hạn chế, thực hiện hành vi phạm tội bột phát nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo C có nhân thân xấu, D không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng quản lý cai nghiện bằng biện pháp thay thế uống Methadone tại xã nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

[7] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; thời gian các bị cáo bị tạm giam được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[8] Đối với Lò Văn K1, Lèo Văn Đ1 đã tự ý tham gia dùng tay đánh C1, C1 được đánh trả lại nhưng K1, Đ1 ngừng tham gia trước khi C và D sử dụng “ Hung

khí nguy hiểm”, không để lại thương tích, chưa ai có tiền án, tiền sự, không có ai yêu cầu đề nghị gì khác, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[9] Vật chứng của vụ án: 01 USB lưu trữ 01 tệp “video” là tài liệu chứng minh tội phạm tiếp tục được lưu giữ, bảo quản theo hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 90, 107 Bộ luật Tố tụng hình sự.

02 đầu cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu xanh; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng, quanh cổ chai có dán giấy bạc có dòng chữ TIGER; 48 mảnh thuỷ tinh, màu xanh; 11 mảnh thuỷ tinh mầu trắng là vật không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 Micro bằng kim loại, hình trụ tròn màu đen, xám là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Đ1 và chị H1, không biết việc bị cáo D sử dụng phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Lò Văn C và Lèo Văn D đã làm tổn hại đến sức khoẻ anh C1 và anh K1, lỗi thuộc về C và D nên bị hại yêu cầu phải bồi thường thiệt hại là có căn cứ; tuy nhiên yêu cầu bồi thư ờng thiệt hại số tiền 100.000.000VNĐ của K1 và yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000VNĐ của C1 lại không cung cấp được đầy đủ chứng từ chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu; căn cứ vào các Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xác định mức bồi thường thiệt hại như sau:

  • Chi phí khám, chữa bệnh (có chứng từ) của K1 là 4.342.516VNĐ; của C1 là 2.972.774VNĐ.
  • Chi phí bồi dưỡng sức khỏe (lương tối thiểu vùng huyện M là 3.250.000VNĐ/26 ngày) của K1 là 1.125.000VNĐ; của C1 là 625.000VNĐ.
  • Chi phi phục hồi sức khoẻ của K1 là 1.125.000VNĐ; của C1 là 625.000VNĐ.
  • Thu nhập thực tế bị mất (thu nhập cùng loại tại địa phương là 300.000VNĐ) của K1 là 2.700.000VNĐ; của C1 là 1.500.000VNĐ.
  • Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc đối với K1 là 2.700.000VNĐ và đối với C1 là 1.500.000VNĐ.
  • Thuê phương tiện đi cấp cứu đối với K1 là 1.000.000VNĐ và đối với C1 là 1.000.000VNĐ.
  • Thuê phòng nghỉ trọ của người chăm sóc trong thời gian khám chữa đối với K1 là 2.250.000VNĐ và đối với C1 là 1.250.000VNĐ.
  • Khoản tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần của K1 là 16.200.000VNĐ và C1 là 7.200.000VNĐ.

Tổng cộng Lò Văn C và Lèo Văn D phải bồi thường thiệt hại: cho Cầm Văn K là 31.442.000VNĐ (theo phần là 15.721.000VNĐ) và cho Lò Văn C1 là 16.672.000VNĐ (theo phần là 8.336.000VNĐ). Đại diện gia đình C và D đã tự

nguyện bồi thường cho anh K là 18.000.000VNĐ (mỗi gia đình 9.000.000VNĐ) nên buộc Lò Văn C phải tiếp tục bồi thư ờng thiệt hại cho anh K số tiền 6.721.000VNĐ và bồi thường cho anh C1 số tiền 8.336.000VNĐ; Lèo Văn D phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh K số tiền 6.721.000VNĐ và bồi thường cho anh C1 số tiền 8.336.000VNĐ.

Anh Lò Văn K1 hỗ trợ Cầm Văn K 2.000.000VNĐ là tự nguyện, không có ai yêu cầu đề nghị gì thêm, không đề nghị ghi nhận.

[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng không sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không có căn cứ miễn, giảm nộp tiền án phí nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Văn C;

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lèo Văn D.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C, Lèo Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Xử phạt:
    • Bị cáo Lò Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (04/02/2024).
    • Bị cáo Lèo Văn D 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (03/02/2024).
  3. Về vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 90, 107 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tiếp tục lưu giữ, bảo quản theo hồ sơ vụ án tại Toà án: 01 USB lưu trữ 01 tệp “video”.
    • Tịch thu và tiêu huỷ: 02 đầu cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu xanh; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng; 01 cổ chai thuỷ tinh hình trụ, màu trắng, quanh cổ chai có dán giấy bạc có dòng chữ TIGER; 48 mảnh thuỷ tinh, màu xanh; 11 mảnh thuỷ tinh màu trắng.
    • Trả lại: 01 Micro bằng kim loại, hình trụ tròn màu đen, xám cho anh Ngô Xuân Đ và Bùi Thị H1 (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự, buộc:
    • Lò Văn C phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh Cầm Văn K số tiền 6.721.000VNĐ và bồi thường cho anh Lò Văn C1 số tiền 8.336.000VNĐ;
    • Lèo Văn D phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh Cầm Văn K số tiền 6.721.000VNĐ và bồi thường cho anh Lò Văn C1 số tiền 8.336.000VNĐ.

    “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án”.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc Lò Văn C, Lèo Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 752.000VNĐ (Bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng) đối với mỗi bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/6/2024); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện M;
  • - CA h.Mường La (Bộ phận Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam);
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lo Văn C và Quàng Văn D, Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger