|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/HS-PT Ngày 19 - 08 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng.
Ông Trần Minh Bắc.
- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong các ngày 16 và 19 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 120/2024/HSPT ngày 25/7/2024 đối với các bị cáo Đặng Xuân H, Phạm T, Nguyễn Thanh T1, Lê Quốc C do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các bị cáo có kháng cáo:
-
Đặng Xuân H, sinh năm 1993 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: khu phố N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Đặng Xuân M, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thị L sinh năm 1993, con: 01 con sinh năm 2020;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
-
Phạm T, sinh năm 1993 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm Đình H2, sinh năm 1942 và bà Dương Thị C1, sinh năm 1952; vợ, con: không;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1989 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Đình H3, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959; vợ: Hồ Thị L1, sinh năm 1992 (đã ly hôn), con: 01 con, sinh năm 2017 (đang sống với vợ cũ);
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
-
Lê Quốc C, sinh năm 1983 tại Bình Thuận; nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Lê Ngọc C2, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1959; vợ: Lê Thị Mỹ L2, sinh năm 1989, con: 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018;
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/08/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp nhận hồ sơ vụ “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” xảy ra vào năm 2022 trên địa bàn huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh B chuyển. Quá trình điều tra xác minh xác định như sau:
Đặng Xuân H, Phạm T, Nguyễn Thanh T1 và Lê Quốc C không có Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông, nhưng muốn làm chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản nên H, T, T1 và C đã tìm cách mua Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả. Hành vi cụ thể như sau:
-
Đầu năm 2012, Đặng Xuân H lên mạng xã hội tìm người để thuê làm giả một Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mang tên Đặng Xuân H thì được một tài khoản trên mạng xã hội nhận làm (H không nhớ rõ tên thông tin về tài khoản mạng của người này) với số tiền là 800.000 đồng. Khoảng một tuần sau H nhận được 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả có số hiệu 00690938 mang tên ĐẶNG XUÂN H4 và H đã thanh toán 800.000 đồng cho người chuyển phát nhanh. Sau khi có Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả, H mang đến văn phòng Công chứng Trần Tuấn T2, địa chỉ khu phố N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để phô tô công chứng Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả trên. Sau đó, H mang bản phô tô có công chứng Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để nộp theo hồ sơ đăng ký dự thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản do Sở Xây dựng tỉnh B tổ chức cho một người tên S (không rõ họ tên, địa chỉ).
-
Tháng 5 năm 2022, Phạm T vào một tài khoản mạng xã hội Zalo có tên “Chứng chỉ tổng hợp” để thuê làm giả một bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mang tên Phạm T (T không biết nhân thân, lai lịch của người này) hai bên thống nhất làm Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả trên với số tiền là 1.500.000 đồng (có kèm theo hai bản phô tô công chứng). T cung cấp địa chỉ nhà của T để khi nào làm xong sẽ có người mang bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông đến cho T. Mấy ngày sau, T nhận được một Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả có số hiệu: A 00247917 mang tên PHẠM TUÂN và hai bản phô tô công chứng của bằng tốt nghiệp giả trên do Công chứng viên có tên Phương Văn T3 của Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ký sao y bản chính và T đã thanh toán 1.500.000 đồng cho người chuyển phát nhanh. Sau khi có Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả, T đem đốt bản chính của bằng tốt nghiệp giả và mang bản phô tô có công chứng B tốt nghiệp Trung học phổ thông giả trên để nộp theo hồ sơ đăng ký dự thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản do Sở Xây dựng tỉnh B tổ chức cho một người tên là T4 (không rõ họ tên, địa chỉ).
-
Tháng 02 năm 2022, Nguyễn Thanh T1 biết và lên gặp một người đàn ông tại ngã G, đường N Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (T1 không biết nhân thân, lai lịch của người này) để thuê làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả mang tên Nguyễn Thanh T1. Hai bên thống nhất làm Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả có kèm theo hai bản phô tô công chứng của bằng tốt nghiệp trên với giá 3.000.000 đồng, T1 trả trước 1.000.000 khi nào nhận được sẽ thanh toán 2.000.000 đồng còn lại. Đến tháng 03 năm 2022, T1 lên ngã G, đường N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh để nhận Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả có số hiệu: A 03235109 mang tên NGUYỄN THÀNH T5 và hai bản phô tô của bằng tốt nghiệp trên đồng thời thanh toán số tiền 2.000.000 đồng còn lại. Tam mang bản phô tô công chứng Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả trên để nộp theo hồ sơ đăng ký dự thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản do Sở Xây dựng tỉnh B tổ chức cho một người có tên là T6 (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ).
-
Tháng 03 năm 2022, Lê Quốc C lên mạng xã hội Facebook tìm người để thuê làm một Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả mang tên Lê Quốc C thì được một tài khoản trên mạng Facebook nhận làm (Chánh không nhớ rõ tên tài khoản facebook của người này). Hai bên thống nhất làm Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả có kèm theo một bản phô tô công chứng của bằng tốt nghiệp trên với giá 600.000 đồng khi nào nhận được bằng sẽ thanh toán tiền sau. Khoảng một tuần sau, thông qua một người chuyển phát nhanh, Chánh nhận được một Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông có số hiệu: G - Đ 1055825/THPT mang tên LÊ QUỐC CHÁNH và một bản phô tô công chứng của bằng tốt nghiệp trên và đã thanh toán 600.000 đồng cho người chuyển phát nhanh. Đến tháng 04 năm 2022, Chánh mang bản phô tô công chứng bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả trên để nộp theo hồ sơ đăng ký dự thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản do Sở xây dựng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức cho một người có tên là L3 (không rõ họ tên, địa chỉ).
Tại Bản kết luận giám định số: 139/KL-KTHS-TL ngày 04/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
“1. Chữ ký mang tên Nguyễn Thanh G trên mẫu của giám định ký hiệu A và chữ ký mang tên Nguyễn Thanh G trên mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 không phải là chữ ký của cùng một người. Chữ ký mang tên Nguyễn Thanh G trên mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 là chữ ký sao chụp nên không sử dụng làm mẫu so sánh.
2. Chữ ký, hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 là bản sao chụp nên không tiến hành giám định.
3. Chữ ký mang tên Nguyễn Thanh G trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ ký mang tên Nguyễn Thanh G trên mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 không phải do cùng một người ký ra (chữ ký mang tên Nguyễn Thanh G trên mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 là chữ ký sao chụp nên không sử dụng làm mẫu so sánh).
4. Hình dấu Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bà R – Vũng Tàu trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A3, A4 không phải do con dấu Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh B có hình dấu mẫu trên mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M11 đóng ra.
5. Chữ ký mang tên Phan Châu P1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A4 so với chữ ký mang tên Phan Châu P1 trên mẫu so sánh ký hiệu từ M6 đến M8, M10 không phải là chữ ký của cùng một người”.
Đối với mẫu giám định 01 (một) bản phô tô Bằng tốt nghiệp THPT có số hiệu: A 00247917 mang tên PHẠM TUÂN (ký hiệu A2), không tiến hành giám định được. (vì là bản phô tô). Tuy nhiên, quá trình điều tra xác minh tại Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có công chứng viên tên Phương Văn T3 và T7 THPT Nguyễn Văn C3 không cấp bằng cho học sinh “Phạm Tuân”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu thập 01 bản sao “Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” số hiệu A00247917, số vào sổ cấp bằng 02100942 mang tên Phạm T, số chứng thực 5601, quyển sổ 02, ngày chứng thực 01/4/2022 và tiến hành trưng cầu giám định hình dấu Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên bản sao này.
Tại Bản kết luận giám định số 21/KL-KTHS-TL, ngày 29/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự tỉnh K kết luận:
Hình dấu Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HSST ngày 12/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đặng Xuân H, Phạm T, Nguyễn Thanh T1 và Lê Quốc C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 341; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt các bị cáo Đặng Xuân H, Phạm T, Nguyễn Thanh T1, Lê Quốc C mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngày 14, 15 và 17/06/2024 các bị cáo Đặng Xuân H, Phạm T, Lê Quốc C, Nguyễn Thanh T1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo Đặng Xuân H, Phạm T, Lê Quốc C, Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự và tuyên phạt các bị cáo 09 (chín) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải, đều là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt chính là phạt tù nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, tuyên phạt hình phạt chính là phạt tiền với mức phạt nghiêm khắc cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Các bị cáo không tham gia tranh luận. Nói lời sau cùng, các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
2.1 Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng năm 2022, thông qua mạng xã hội, Đặng Xuân H, Phạm T, Nguyễn Thanh T1 và Lê Quốc C đã tìm người làm giả Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông. Đặng Xuân H mua với giá 800.000 đồng; Phạm T mua với giá 1.500.000 đồng; Nguyễn Thanh T1 mua với giá 3.000.000 đồng. Lê Quốc C mua với giá 600.000 đồng. Sau đó, H, T, T1 và C đã sử dụng Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để nộp hồ sơ đăng ký dự thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản do sở Xây dựng tỉnh B tổ chức.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2.2 Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức. Đặc biệt, hành vi này đang diễn ra tràn lan tại địa bàn huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tuyên phạt các bị cáo Đặng Xuân H, Phạm T, Nguyễn Thanh T1, Lê Quốc C 09 (Chín) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã tuyên phạt mỗi bị cáo 9 (chín) tháng tù là không nặng, phù hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh chính trị tại địa phương nên không có căn cứ xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo. Tuy nhiên, xét riêng hoàn cảnh gia đình của từng bị cáo thì thấy rằng, bị cáo Đặng Xuân H hiện đang nuôi con nhỏ mới 4 tuổi, bị cáo Lê Quốc C hiện nuôi 02 con nhỏ (nhỏ nhất mới 6 tuổi) nên việc bắt các bị cáo này chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng lớn đến việc nuôi dưỡng, giáo dục, sự hình thành nhân cách cũng như tương lai của con các bị cáo. Vì vậy, để thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của 02 bị cáo Đặng Xuân H và Lê Quốc C, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Các bị cáo Đặng Xuân H, Lê Quốc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Phạm T, Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 36/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Phạm T, Nguyễn Thanh T1, Đặng Xuân H, Lê Quốc C phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
-
Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm T, Nguyễn Thanh T1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt đối với 02 bị cáo;
Áp dụng Khoản 1 Điều 341; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt các bị cáo Phạm T và Nguyễn Thanh T1 mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
-
Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Xuân H và Lê Quốc C, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về biện pháp chấp hành hình phạt;
Áp dụng Khoản 1 Điều 341; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt các bị cáo Đặng Xuân H và Lê Quốc C mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đặng Xuân H cho chính quyền địa phương là UBND thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách;
Giao bị cáo Lê Quốc C cho chính quyền địa phương là UBND xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách;
Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Các bị cáo Đặng Xuân H, Lê Quốc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Phạm T, Nguyễn Thanh T1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/08/2024).
Nơi nhận:
- - TANDTC;
- - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
- - VKSND tỉnh BR - VT ;
- - Sở Tư pháp tỉnh BR - VT;
- - PV 27 – Công an tỉnh BR - VT;
- - TAND huyện Châu Đức;
- - VKSND huyện Châu Đức;
- - Công an huyện Châu Đức;
- - Chi cục THA dân sự huyện Châu Đức;
- - Các bị cáo;
- - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thái Hùng (đã ký) |
Bản án số 97/2024/HS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về vụ án hình sự phúc thẩm về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 97/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân H và đồng phạm phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
