Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 8-2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh; ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Bảo Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QÐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Kim L, sinh năm 1988, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố I, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ liên hệ: Số D, Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Chị Phan Thị B, sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (Hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản). ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình giải quyết, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn anh Hoàng Kim L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị Phan Thị B đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 08/7/2015 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 người con chung là Hoàng Ngọc M (sinh ngày 12/4/2016), hiện cháu M đang được bố và ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột vợ chồng ngày càng trầm trọng, đặc biệt là xung đột về tính cách và quan điểm sống. Hiện nay, do mâu thuẫn, xung đột thường xuyên, hiện tại vợ chồng đang sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, nay anh L làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử cho anh được ly hôn với chị Phan Thị B.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Hoàng Ngọc M (sinh ngày 12/4/2016). Nay ly hôn, anh L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với chị Phan Thị B thông qua cuộc gọi video có hình ảnh với tài khoản Zalo chị Phan Thị B (do ông Phan Văn H và bà Trần Thị T là bố mẹ đẻ của chị Phan Thị B cung cấp thông tin và chứng kiến). Bị đơn chị Phan Thị B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Phan Thị B thống nhất về nội dung trình bày của anh Hoàng Kim L về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. chị B đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh L, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị B và anh L được ly hôn.

- Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Hoàng Ngọc M (sinh ngày 12/4/2016). Anh L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu chị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cháu Hoàng Ngọc M có đơn trình bày nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Do chị B đang lao động tại nước ngoài, không thể trực tiếp nuôi con nên chị thống nhất như yêu cầu của anh L cũng như nguyện vọng của con.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị Phan Thị B xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị B đang lao động tự do tại Nhật Bản nên không có địa chỉ cụ thể, không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, nên chị xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết và ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Phan Văn H và bà Trần Thị T giao nhận các tài liệu của Tòa án gửi thay chị. Quá trình làm việc, ông Phan Văn H và bà Trần Thị T đồng ý chấp nhận việc ủy quyền giao nhận tại liệu của chị Phan Thị B, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản của Tòa án để chị B được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:

- Về tình cảm: xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Hoàng Ngọc M (sinh ngày 12/4/2016). Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về việc giao con chung cho anh Hoàng Kim L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chị Phan Thị B có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.

- Về án phí: anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phan Thị B và anh Hoàng Kim L đăng ký kết hôn vào ngày 08/7/2015 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Nay anh Hoàng Kim L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị B. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh của Cục Q - Bộ C, xác nhận: chị Phan Thị B, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 24/9/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tại thời điểm thụ lý vụ án, chị B đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B đều trình bày vì điều kiện công việc, không thể có mặt trực tiếp để giải quyết vụ án và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và chị B ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho ông Phan Văn H và bà Trần Thị T (bố mẹ đẻ chị B), địa chỉ Thôn D, xã L, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Chị Phan Thị B đang lao động tự do tại Nhật Bản và không có địa chỉ cụ thể, tuy nhiên Tòa án đã thông qua gia đình để thu thập đầy đủ ý kiến của chị đối với việc giải quyết ly hôn. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày ngày 08/7/2015, tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh L và chị B đã lâu, giữa anh L và chị B không còn tiếng nói chung, không đồng nhất trong cuộc sống hôn nhân. Mặt khác, hiện nay chị B đang lao động tại Nhật Bản, do khoảng cách về địa lý nên mâu thuẫn giữa anh L và chị B cũng không thể hóa giải được, cuộc sống hôn nhân nhân cũng không có hạnh phúc.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng cuộc hôn nhân của anh L và chị B không đạt được điều đó. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B.

[2.2] Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B có 01 con chung là Hoàng Ngọc M, sinh ngày 12/4/2016,

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị B đang sinh sống và lao động ở Nhật Bản không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, cháu Hoàng Ngọc M sống cùng với bố Hoàng Kim L từ nhỏ, cháu được bố M chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, phát triển đầy đủ thể chất lẫn tinh thần. Anh L và chị B thống nhất giao con chung Hoàng Ngọc M, sinh ngày 12/4/2016 cho anh Hoàng Kim L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, sự thỏa thuận của anh L và chị B là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B tự thỏa thuận với với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Kim L và chị Phan Thị B.
  2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Ngọc M, sinh ngày 12/4/2016 cho anh Hoàng Kim L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Chị Phan Thị B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Hoàng Kim L tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, anh L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000896 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Trả lại cho anh Hoàng Kim L 150.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
- UBND phường Bắc Hồng;
- Các đương sự;
- Lưu HS, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà



Trần Thị Thu Hiền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger