|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/12/2024
V/v tranh chấp về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Minh
2. Ông Nguyễn Việt Anh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Minh
- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai
Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Đỗ Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 707/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024; quyết định hoãn phiên toà số 76 ngày 22 tháng 11 năm 2024; Thông báo mở lại phiên toà ngày 29/11/2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thu T1, sinh năm 1989;
Thường trú: Tổ I Y, phường Y, quận H, Hà Nội.
Trú tại: Số D ngõ B T, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội( có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1988;
Thường trú: Tổ I Y, phường Y, quận H, Hà Nội( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện gửi cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thu T1 trình bày:
- Về tình cảm: Chị Đỗ Thị Thu T1 và anh Nguyễn Minh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, quận H, thành phố Hà Nội vào ngày 13/12/2010.
Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chồng rượu chè, không chịu khó làm ăn, trong quá trình sống chung không có trách nhiệm với con cái và gia đình. Vợ chồng ly thân được hơn 01 năm. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhưng không thành.
Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh L.
- Về con chung: Chị T1 xác nhận trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011. Sau khi ly hôn, Chị T1 có nguyện vọng cho anh Nguyễn Minh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Nguyễn Đỗ Minh Q cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
- Về cấp dưỡng: Chị T1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng cho con đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nhà ở chung: chị T1 xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản nợ chung: chị T1 xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị T1 tự nguyện nộp án phí ly hôn theo quy định.
* Tại đơn khởi kiện gửi cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Minh L trình bày:
- Về tình cảm: Vợ chồng đăng ký kết hôn theo quy định tại Phường Y, quận H, Hà Nội. Vợ chồng chung sống từ năm 2010 đến đầu năm 2024 thì ly thân. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, một phần lỗi là do bản thân anh. Nay chị T1 muốn ly hôn, anh không đồng ý, muốn chị T1 quay về cùng nuôi dạy con cái, bản thân anh còn tình cảm với vợ và muốn hàn gắn.
- Về con chung: Anh L xác nhận trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011. Nếu chị T1 kiên quyết ly hôn thì anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì thực tế hiện nay con vẫn đang ở với anh. Hiện tại, anh làm nghề tự do, thu nhập khoảng 10 triệu đồng/ tháng.
- Về tài sản chung và nhà ở chung: anh L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản nợ chung: anh L xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị T1 tự nguyện nộp án phí ly hôn theo quy định.
Tại phiên tòa: chị Đỗ Thị Thu T1 vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Minh L. Chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh L đã trầm trọng, kéo dài không thể hàn gắn đoàn tụ được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị T1 xác nhận trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011. Sau khi ly hôn, Chị T1 đồng ý cho anh Nguyễn Minh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo đúng nguyện vọng của con.
Về cấp dưỡng: Chị T1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng cho con đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nhà ở chung: chị T1 và anh L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: chị T1 và anh L xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của các đương sự, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đề xuất hướng giải quyết vụ án như sau:
+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Chị T1 và anh L phát sinh mâu thuẫn đã lâu, đến nay không còn tình cảm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T1, cho chị T1 được ly hôn với anh L.
+ Về con chung: Chị T1, anh L xác nhận trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011. Sau khi ly hôn, chị T1, anh L đều thống nhất về vấn đề nuôi con chung nên đề nghị giao con chung cho anh Nguyễn Minh L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
+ Về cấp dưỡng: Chị T1 cấp dưỡng nuôi con với số tiền cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
+ Về tài sản chung và nhà ở chung: chị T1 và anh L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về các khoản nợ chung: chị T1 và anh L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng: chị Đỗ Thị Thu T1 xin ly hôn với anh Nguyễn Minh L, anh L hiện trú tại phường Y, quận H, thành phố Hà Nội . Theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai.
* Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đỗ Thị Thu T1 và anh Nguyễn Minh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/12/2010 tại Ủy ban nhân dân phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Do vậy, hôn nhân là hợp pháp.
Căn cứ vào lời trình bày của chị T1, anh L và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau; vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng trong việc sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng đã ly thân một thời gian. Toà án tiến hành hoà giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh L không lên Tòa án để hoà giải, chứng tỏ anh L không có thiện chí để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Bản thân anh L không muốn ly hôn nhưng không có biện pháp nào để khắc phục tình trạng mâu thuẫn vợ chồng.
Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T1 và anh L đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T1, cho chị T1 được ly hôn anh L.
* Về con chung: Chị T1, anh L cùng xác nhận trong thời kỳ hôn nhân, anh chị 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011. Sau khi ly hôn, Chị T1, anh L đều có nguyện vọng cho anh Nguyễn Minh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác, chị T1 chịu trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng. Xét thấy, khi vợ chồng chị T1 ly thân, cháu Q ở cùng với anh L, do anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Để không ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của cháu cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu Q, Hội đồng xét xử giao con chung cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị T1 cấp dưỡng cho con chung 3.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
* Về tài sản chung và nhà ở chung: Chị T1 và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
*Về các khoản nợ chung: Chị T1 và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
* Về án phí: Chị T1 phải nộp 300.000 đồng án phí LHST theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, điều 273 bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điều 51,56 và điều 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ vào điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thu T1. Chị Đỗ Thị Thu T1 được ly hôn với anh Nguyễn Minh L.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 23/12/2011 cho anh Nguyễn Minh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Chị Đỗ Thị Thu T1 được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đỗ Thị Thu T1 cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
4. Về tài sản chung, nhà ở chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về các khoản nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
6. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thu T1 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T1 đã nộp tại biên lai số 0034004 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chị T1 đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Chị T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Cúc |
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thu Trang. Chị Đỗ Thị Thu Trang được ly hôn với anh Nguyễn Minh Long.
