|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/DS-PT Ngày 01-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê | |
| Các Thẩm phán: | Bà Huỳnh Ái Loan |
| Bà Ngô Thị Kim Châu |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2024/TLPT-DS, ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án sơ thẩm số 47/2023/DS-ST, ngày 08-9-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 47/2024/QĐ-PT, ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 60/2024/QĐ-PT, ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1954; cư trú tại ấp L, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Huỳnh Việt T, sinh năm 1982; cư trú tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 21/5/2024" (có mặt).
- Bị đơn:
- Anh Nguyễn Trung T1, sinh năm 1982; cư trú tại số F, Khóm C, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1985; cư trú tại ấp L, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của các bị đơn: Anh Nguyễn Văn Út E, sinh năm 1981; cư trú tại ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2023" (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Ông Giang Minh C, là Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Thạch Thị Minh H, sinh năm 1984; cư trú tại số F, Khóm C, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của chị Minh H: Anh Nguyễn Văn Út E, sinh năm 1981; cư trú tại ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2023" (có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2022 của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và các lời khai của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Ông Đ có thỏa thuận mua căn nhà gắn liền diện tích đất 250m², thuộc các thửa số 127, 128 và 146, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh của anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q, với số tiền bằng 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng). Đến ngày 28/5/2022, hai bên lập biên nhận đặt cọc, ông Đ giao tiền cọc cho anh T1 và anh Q bằng 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hai bên thỏa thuận ngày 01/10/2022 ký hợp đồng tại Văn phòng Công chứng và ông Đ sẽ giao đủ số tiền còn lại bằng 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) cho anh T1 và anh Q. Nhưng khi ông Đ đi xem căn nhà, ông Đ thấy có một phần diện tích căn nhà đã xây dựng trên đất của người khác. Lúc đó, ông Đ đề nghị anh T1 và anh Q mời cán bộ địa chính đến kiểm tra lại diện tích căn nhà để xác định vị trí, nếu đúng vị trí thì tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Do anh T1 và anh Q không mời cán bộ địa chính đến kiểm tra lại diện tích căn nhà và diện tích đất, từ đó không tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Nay, ông Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T1 và anh Q hoàn trả tiền đặt cọc cho ông Đ bằng 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Theo bị đơn anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q trình bày: Các anh thừa nhận, có thỏa thuận chuyển nhượng căn nhà gắn liền với các thửa đất cho ông Đ với giá bằng 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng) như ông Đ trình bày. Các anh thừa nhận, đã nhận tiền đặt cọc từ ông Đ bằng 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), nhưng đến ngày ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng Công chứng thì ông Đ không đến, nên ông Đ đã vi phạm thỏa thuận, coi như mất tiền cọc. Vì vậy, các anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ việc đòi lại tiền đặt cọc.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Thạch Thị Minh H trình bày: Căn nhà gắn liền diện tích đất 250m². thuộc các thửa số 127, 128 và 146, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, là tài sản của anh Q. Nhưng anh Q nhờ chị và anh T1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dễ thế chấp, vay vốn tại Ngân hàng. Sau đó, anh Q có thỏa thuận bán căn nhà gắn liền với các thửa đất cho ông Đ, nhưng đến ngày ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng Công chứng thì ông Đ không đến. Trong vụ án này, không có liên quan gì quyền lợi và nghĩa vụ của chị nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm số 47/2023/DS-ST, ngày 08-9-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 143, Điều 147, Điều 177, Điều 227, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 119, 122, 131, 194, 213, 218, 274, 275, 280, 288, 328, 408 và 688 của Bộ luật Dân sự; Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án; điểm d khoản 1 mục 1 Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP, ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đ.
- Vô hiệu giao dịch đặt cọc giữa ông Nguyễn Minh Đ với anh Nguyễn Hồng Q và anh Nguyễn Trung T1, theo tờ biên nhận đặt cọc ngày 28/5/2022.
- Buộc anh Nguyễn Hồng Q và anh Nguyễn Trung T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền đặt cọc bằng 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đ về phạt cọc.
- Về án phí: Buộc anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/9/2023, bị đơn anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử, sửa bản án sơ thẩm, không buộc anh T1 và anh Q hoàn trả tiền đặt cọc cho ông Đ 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Khi làm hợp đồng đặt cọc thì anh Đ1 là người ghi nội dung nếu anh T1 và anh Q không đồng ý bán thì phạt cọc gấp 03 lần, còn ông Đ không đồng ý mua thì mất tiền cọc. Tòa án sơ thẩm xét xử áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 là áp dụng sai lầm; đồng thời, Tòa án sơ thẩm xác định giao dịch dân sự vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được, cũng áp dụng sai lầm, vì các bên chưa ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất, hợp đồng đặt cọc chỉ để giao kết, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất. Mặt khác, Tòa án sơ thẩm xác định lỗi của anh T1 và anh Q, cũng không đúng, vì sau thời gian ông Đ làm khởi kiện anh T1 và anh Q đòi lại tiền đặt cọc 03 tháng thì anh T1 và chị H đã bán căn nhà gắn liền đất cho chị Na Q1 . Do Tòa án sơ thẩm áp dụng sai lầm pháp luật về giải quyết hợp đồng đặt cọc nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T1 và anh Q, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc anh T1 và anh Q trả tiền đặt cọc cho ông Đ.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy kháng cáo của anh T1 và anh Q là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T1 và anh Q, sửa bản án sơ thẩm, không buộc anh T1 và anh Q trả tiền đặt cọc cho ông Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người đại diện hợp pháp của bị đơn không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ và các bị đơn anh Nguyễn Trung T1, anh Nguyễn Hồng Q đều có lời khai thống nhất với nhau, sau khi thỏa thuận mua bán nhà ở gắn liền diện tích đất 250m², thuộc các thửa số 127, 128 và 146, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Ngày 28/5/2022, các bên xác lập và ký kết “Tờ biên nhận đặt cọc”, ông Đ đã giao số tiền đặt cọc cho anh T1 và anh Q nhận bằng 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Đây là tình tiết đã được các bên đương sự thừa nhận nên không phải chứng minh.
[2] Theo nội dung “Tờ biên nhận đặt cọc” ngày 28/5/2022 thể hiện: Ông Đ giao tiền cọc cho anh T1 và anh Q bằng 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), để mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất, diện tích 250m², thuộc các thửa số 127, 128 và 146, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, với giá bằng 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng). Anh T1 và anh Q làm thủ tục sang tên cho ông Đ ngày 01/10/2022, ông Đ sẽ thanh toán số tiền còn lại bằng 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) cho anh T1 và anh Q chậm nhất vào ngày 01/10/2022; đồng thời, ông Đ với anh T1 và anh Q còn thỏa thuận trường hợp anh T1 và anh Q không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ thì phải hoàn trả gấp 03 lần số tiền đặt cọc, trường hợp ông Đ không mua hoặc không thanh toán số tiền còn lại theo thỏa thuận sẽ mất cọc (BL 02, 182). Như vậy, giữa ông Đ với anh T1 và anh Q ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 28/5/2022 là để giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán nhà gắn liền với quyền sử dụng đất. Ông Đ với anh T1 và anh Q chỉ thỏa thuận về xử lý tiền đặt cọc khi một trong hai bên vi phạm thỏa thuận mà không có thỏa thuận khác về trường hợp hợp đồng đặt cọc vô hiệu.
[3] Theo khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự quy định “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Điều 328 của Bộ luật Dân sự không quy định sau khi đặt cọc mà một trong các bên không giao kết, thực hiện hợp đồng thì đặt cọc vô hiệu. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Đ là anh Đ1 và anh T đều xác định số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) ông Đ sử dụng để đặt cọc cho anh T1 và anh Q là tài sản của ông Đ, không phải tài sản của người khác.
[4] Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 28/5/2022, thì ông Đ với anh T1 và anh Q không giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán nhà gắn liền với quyền sử dụng đất, diện tích 250m², thuộc các thửa số 127, 128 và 146, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, như đã thỏa thuận trong nội dung hợp đồng đặt cọc. Đến ngày 04/10/2022 (Sau 03 ngày hai bên thỏa thuận đến Văn phòng Công chứng ký hợp đồng), ông Đ làm đơn khởi kiện gửi Tòa án sơ thẩm, ông Đ cho rằng: Đến khi anh T1 và anh Q giao nhà cho ông Đ thì không đúng vị trí đất như lúc đầu anh T1 và anh Q đã bán, vì một phần căn nhà đã xây dựng trên đất của người khác... (BL 01). Khi xét xử vụ án, Tòa án sơ thẩm nhận định tài sản anh T1 và anh Q bán cho ông Đ do anh T1 và chị H đứng tên quyền sử dụng đất là vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, không đảm bảo đối tượng thực hiện hợp đồng, không phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117, Điều 122, Điều 194, Điều 213, Điều 218 và Điều 408 của Bộ luật Dân sự; Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên vô hiệu (BL 224, 225, 232, 233), là không phù hợp với nội dung thỏa thuận đặt cọc giữa ông Đ với anh T1 và anh Q, áp dụng sai lầm quy định của Bộ luật Dân sự khi giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm, anh T1 và chị H đều xác nhận chỉ là người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dùm cho anh Q, quyền định đoạt tài sản là quyền của anh Q. Theo Vi bằng được Thừa Phát lại lập ngày 03/10/2022, thể hiện: Anh T1 và anh Q nhiều lần trao đổi với ông Đ đến Văn phòng Công chứng thực hiện thủ tục mua bán căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất, nhưng ông Đ không đến theo thỏa thuận (BL 70-82). Cho nên, ông Đ là người từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng, lý do ông Đ nại ra căn nhà của anh Q xây dựng trên diện tích đất của người khác là không có căn cứ. Chỉ khi giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán nhà gắn liền với quyền sử dụng đất mà anh T1 và chị H không đồng ý, thì khi đó mới xem xét hợp đồng mua bán nhà gắn liền với quyền sử dụng đất, đồng thời xem xét hợp đồng đặt cọc có vô hiệu hay không. Thực tế, sau thời gian ông Đ làm đơn khởi kiện anh T1 và anh Q gửi Tòa án sơ thẩm 03 (Ba) tháng, anh T1 và chị H đã lập hợp đồng chuyển nhượng đất, diện tích 250m², thuộc các thửa số 127, 128 và 146, tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất, cho chị Sơn Thị Na Q1 và đã bàn giao tài sản cho chị Na Q1 xong (BL 185, 186, 187, 188, 189).
[6] Mặt khác, sau khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 28/5/2022 thì ngày 01/8/2022 anh Q đã di dời tài sản trong căn nhà, thuê nhà trọ ở để giao căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất cho ông Đ (BL 191). Như vậy, ông Đ là người vi phạm thỏa thuận hợp đồng đặt cọc ngày 28/5/2022 “Không mua hoặc không thanh toán số tiền còn lại theo thỏa thuận sẽ mất cọc”. Anh T1 và anh Q kháng cáo không đồng ý trả lại tiền đặt cọc cho ông Đ, là có cơ sở chấp nhận.
[7] Xét thấy ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn anh T1 và anh Q, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T1 và anh Q, sửa bản án sơ thẩm, không buộc anh T1 và anh Q trả tiền đặt cọc cho ông Đ, là có căn cứ chấp nhận.
[8] Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T1 và anh Q, sửa bản án sơ thẩm, không buộc anh T1 và anh Q trả tiền đặt cọc cho ông Đ, là có căn cứ chấp nhận.
[9] Về án phí: Theo khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định “Trường hợp Tòa án phúc thâm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm; Tòa án phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật này”. Anh T1 và anh Q là người kháng cáo được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên anh T1 và anh Q không phải chịu án phí phúc thẩm. Do ông Đ là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q.
Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm số 47/2023/DS-ST, ngày 08-9-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đ về việc đòi lại tiền đặt cọc.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Minh Đ.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho anh Nguyễn Trung T1 và anh Nguyễn Hồng Q, mỗi người bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo
các biên lai thu số 0018128 và số 0018129, ngày 26/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 97/2024/DS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 97/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa Nguyễn Minh Đ với Nguyễn Trung T
