|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93B/2024/DS-PT Ngày 12 tháng 4 năm 2024 V/v“Tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê QSDĐ; yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc; cây trồng và tài sản khác trên đất” |
Giang. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tấn Tài.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn; Ông Nguyễn Phước Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê QSDĐ; Yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác trên đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 89/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số D, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số C, Nguyễn Tri P, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Đỗ Văn H: Ông Nguyễn Minh H1, sinh ngày 20/4/1967; thường trú tại: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 21/3/2024).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Kim X, sinh năm 1959; nơi cư trú: Khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
2. Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1950; nơi cư trú: Số C, Nguyễn Tri P, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa có mặt các ông (bà) Nguyễn Văn T, Đỗ Văn H, Nguyễn Minh H1 và Nguyễn Kim X. Ông Đỗ Văn B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T (sau đây gọi tắt là ông T) trình bày: vào ngày 01/9/2016, ông Nguyễn Văn T và ông Đỗ Văn H có ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, có lập thành văn bản là “Hợp đồng thuê”; có nội dung, ông T cho ông H thuê phần đất diện tích 1.000m² tọa lạc khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; thời hạn thuê 10 năm (120 tháng), giá thuê 4.000.000đồng/tháng, tổng cộng tiền thuê đất 480.000.000 (bốn trăm tám mươi triệu) đồng. Phương thức thanh toán được chia thành 02 đợt: đợt 01 thanh toán 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng sau khi hợp đồng được ký kết, đợt 02 thanh toán 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu) đồng vào ngày 01/9/2021.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã thanh toán được 200.000.000 đồng, đến ngày 01/9/2021 ông H chưa thanh toán số tiền thuê đất 280.000.000 đồng còn lại như thỏa thuận. Ông T nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H không thực hiện thanh toán số tiền thuê đất còn lại.
Ngoài ra, sau khi ông H thuê đất khoảng 10 tháng thì ông T phát hiện ông H tự ý sử dụng phần đất lớn hơn phần diện tích đất đã thuê, nên ông yêu cầu ông H trả thêm tiền khi sử dụng phần diện tích đất lớn hơn so với diện tích đất trong Hợp đồng.
Trước khi cho ông H thuê đất, vào ngày 24/8/2016 vợ chồng ông T (T, X) có trực tiếp thuê ông Nguyễn Tấn H2 thực hiện san lấp phần đất với trữ lượng cát 6.600m³ với giá 385.000.000 (ba trăm tám mươi lăm triệu) đồng, có làm giấy tay nhưng đã thất lạc. Sau khi cho ông H thuê, ông H có tiếp tục san lấp trên mặt bằng thuê, được biết tổng cộng số tiền là 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu) đồng, không rõ số lượng cát bao nhiêu.
Nay ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn H:
- - Chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 01/9/2016, ông H phải trả lại mặt bằng theo hợp đồng đã ký như hiện trạng ban đầu, di dời vật kiến trúc, cây cối trên đất; ông thừa nhận phần vật liệu (cát, đá) mà ông H đã san lấp với số tiền là 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu) đồng;
- - Trả số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng còn nợ của Hợp đồng thuê đất ngày 01/9/2016 (tính từ ngày 01/9/2016 đến ngày 01/9/2021 = 60 tháng x 4.000.000 đồng/tháng = 240.000.000 đồng; đã thanh toán 200.000.000 đồng, còn lại 40.000.000 đồng);
3
- - Tiếp tục trả tiền thuê đất với giá 4.000.000 đồng/tháng mà ông H sử dụng kể từ ngày 01/9/2021 cho đến nay.
Ngày 01/8/2023 ông Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung: Yêu cầu ông Đỗ Văn H và ông Đỗ Văn B di dời toàn bộ vật kiến trúc và cây trồng ra khỏi phạm vi đất theo như Bản trích đo hiện trạng của Công ty TNHH Đ2 lập ngày 19/10/2022 để trả lại phần diện tích đất đã sử dụng.
Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Văn H (sau đây gọi tắt là ông H) trình bày: Ông H và ông T có thỏa thuận thuê đất vào ngày 01/9/2016, có làm Hợp đồng thuê đất, thời hạn thuê 10 năm, diện tích đất cho thuê là 1.000m² với giá 480.000.000 đồng; thỏa thuận trả làm 02 đợt, đợt 01 thanh toán 200.000.000 đồng sau khi hợp đồng được ký kết, đợt 02 thanh toán 280.000.000 đồng vào ngày 01/9/2021. Ông H đã thanh toán đợt 01 là 200.000.000 đồng, thừa nhận đến nay chưa thanh toán phần tiền thuê đất còn lại.
Khi thuê đất của ông T, để sử dụng được mặt bằng thì ông H trực tiếp thuê ông Nguyễn Tấn H2 san lấp mặt bằng với trữ lượng cát san lấp là 7.400 m³, với giá 62.000 đồng/m³, với tổng số tiền là 458.000.000 (bốn trăm năm mươi tám triệu) đồng, có lập “HỢP ĐỒNG SAN LẮP” ngày 01/5/2016 và có người chứng kiến là ông Nguyễn Minh H3. Ông H đã trả trực tiếp cho ông H2 số tiền 220.000.000 đồng, phần tiền còn lại, ông H nhờ ông Nguyễn Gia T1 (B1 - con của ông T) trả thay để khấu trừ số tiền 600.000.000 đồng mà ông T1 đã nợ của ông H, nên toàn bộ số tiền san lấp mặt bằng thuê của ông T là tiền của ông H (bút lục 32). Còn việc trước đây ông T, bà X có san lắp hay không thì ông H không biết.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì ông H có ý kiến như sau:
- - Yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê, ông H sẽ trả số tiền còn nợ của hợp đồng là 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu) đồng;
- - Nếu ông T không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê mà yêu cầu lấy lại mặt bằng thì ông H yêu cầu ông T phải trả giá trị số lượng cát đã san lấp theo giá cát hiện tại khoảng 200.000 đồng/m³, hoặc ông tự múc phần đất đã san lấp là 7.400 m³ và 1.300m³ cát xà bồ;
- - Ông không đồng ý về việc ông T yêu cầu trả tiền thêm phần diện tích sử dụng dư 500m² so với hợp đồng thuê đất vì quá trình sử dụng mặt bằng từ khi thuê cho đến khi xảy ra tranh chấp thì phía ông T, bà X cũng không có ý kiến gì về phần diện tích đất sử dụng thừa và ông là người trực tiếp sử dụng mặt bằng thuê chứ không cho ai thuê lại sử dụng (bút lục 30);
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim X trình bày: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông T;
- - Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn B trình bày: Ông là cha ruột của ông Đỗ
4
Văn H, ông thường xuyên làm việc và sinh sống tại diện tích đất mà ông H đã thuê của ông T. Ông chỉ phụ giúp cho ông H, việc tranh chấp giữa ông T và ông H thì ông không có ý kiến và yêu cầu gì. Khi nào ông H trả mặt bằng thì tự di dời và trả lại mặt bằng cho chủ đất. Tất cả những cây cối ông đã trồng và vật kiến trúc xây dựng trên tích đất thuê ông để lại cho ông H toàn quyền quyết định. Ông không liên quan gì trong vụ án và không thiệt hại gì nên để ông H quyết định hoàn toàn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc, cây trồng và tài sản khác trên đất” đối với ông Đỗ Văn H.
- Chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 01/9/2016 do ông Nguyễn Văn T đại diện ký kết với ông Đỗ Văn H; buộc ông Đỗ Văn H và ông Đỗ Văn B tự chặt, đốn hạ, tháo dỡ, di dời toàn bộ cây trồng, vật nuôi (nếu có) và các tài sản gắn liền trên đất là vật kiến trúc, công trình xây dựng (nhà khung tiền chế mái tol, nhà cây mái tol, vách tol, nhà vệ sinh vách tường mái tol....) được thể hiện trong Biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 12/7/2013 và theo Bản trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Công ty TNHH Đ2 lập ngày 19/10/2022 là một phần không thể tách rời bản án, trả lại đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim X.
Buộc ông Đỗ Văn H phải trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim X số tiền 136.000.000 (một trăm ba mươi sáu triệu) đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/9/2023, bị đơn ông Đỗ Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
- - Về thủ tục tố tụng, kháng cáo của ông Đỗ Văn H là phù hợp pháp luật; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng;
- - Về nội dung giải quyết vụ án:
5
Tại phiên tòa phúc thẩm ông T và ông H đều khẳng định ông H chỉ sử dụng phần diện tích đất từ phía trước ra sau đến phần ao cá, từ ao cá trở về sau thì ông T đang quản lý, ông H chỉ xây dựng thêm nhà vệ sinh ở phần sau ao cá này; tình tiết này cho thấy, cấp sơ thẩm thụ lý khởi kiện bổ sung của ông T để buộc ông H trả lại toàn bộ diện tích đất thuộc 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên là chưa đúng với mối quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ di dời vật kiến trúc, cây trồng trên đất” liên quan 1.000m² hay 1.500m².
Tại các Biên bản hòa giải các bên cũng không thống nhất về diện tích đất sử dụng. Phía ông T cho rằng chỉ cho ông H thuê diện tích đất 1.000m² nhưng ông H lại sử dụng diện tích đất của ông là 1.500m²; ông H không thừa nhận, ông chỉ sử dụng đúng diện tích đất thuê của ông T là 1.000m² nhưng không được cấp sơ thẩm làm rõ, thực tế ông H sử dụng diện tích đất thuê là bao nhiêu mét vuông. Trong Bảng vẽ trích đo hiện trạng cũng không thể hiện ông H sử dụng phần đất thuê của ông Thông thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào của ông T được cấp mà chỉ nêu tổng thể là nằm trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không nêu cụ thể các điểm mốc nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào, diện tích bao nhiêu.
Sau khi đo đạc, nhận thấy hình thể khu đất theo 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T và Bản đồ địa chính có sai lệch, nhằm để có cơ sở xác định ranh giới theo 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty TNHH Đ2 đã có Công văn số 41, ngày 27/9/2022 yêu cầu Tòa án có Văn bản đề nghị Văn phòng Đ3 chi nhánh C cho Công ty T2 hồ sơ khống chế đo vẽ chi tiết 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện.
Như vậy Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/10/2022 của Công ty TNHH Đ2 chưa bảo đảm về tính chính xác cũng như tính pháp lý nhưng lại được cấp sơ thẩm sử dụng để làm căn cứ giải quyết vụ án là chưa đúng.
Trường hợp cấp sơ thẩm ngừng phiên tòa, chấp nhận thụ lý khởi kiện bổ sung của ông T, thì vụ án phải được giải quyết lại từ đầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như phải hòa giải, công khai chứng cứ lại theo thủ tục chung. Nhưng cấp sơ thẩm chỉ mời các đương sự hòa giải lần đầu, phía bị đơn, người liên quan vắng mặt, cấp sơ thẩm lại lập Biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử là vi phạm khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa xét xử lần đầu cũng vắng mặt các đương sự nói trên nhưng cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ là vi phạm khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của đương sự.
Tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông H, ông B di dời cây trồng, vật kiến trúc để trả lại đất cho ông T theo Bảng trích đo hiện trạng ngày 19/10/2022 của Công ty TNHH Đ2, nhưng không thể hiện cụ thể diện tích
6
đất phải trả là bao nhiêu, nằm ở các điểm nào trên Bảng trích đo hiện trạng; cũng như trên đất tranh chấp có căn nhà của ông Đ nhưng cấp sơ thẩm đã không đưa ông Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Đ.
Từ những thiếu sót, vi phạm như đã phân tích nêu trên, cho thấy cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như: thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, bỏ sót người tham gia tố tụng dẫn đến nội dung giải quyết vụ án chưa chính xác, toàn diện, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên kháng cáo của ông H là có cơ sở để chấp nhận và cần phải hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân thành phố C. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc thụ lý giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Đỗ Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, án phí sơ thẩm được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Đỗ Văn H làm trong hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung kháng cáo: bị đơn ông Đỗ Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc.
[3] Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, HĐXX xét thấy:
[3.1] Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc thể hiện trên phần đất tranh chấp cho thuê khoảng 1.500m² có 04 căn nhà, 01 nhà vệ sinh, 01 số cây trồng, ao cá và cá dưới ao (không rõ số lượng), nhưng cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ những căn nhà do ai xây cất, số lượng cây trồng là bao nhiêu? Loại cây gì? Do ai trồng? Cũng như ao cá và cá dưới ao cũng không xác định là của ai. Đến khi cấp sơ thẩm mở phiên tòa thì bị đơn ông H trình bày trong 04 căn nhà được xây cất có nhà của ông Đỗ Văn B (cha ruột ông H) và ông Nguyễn Văn Đ1 (cha vợ ông H). Cấp sơ thẩm cho ngừng phiên tòa nhưng chỉ ra Thông báo số 18/TB-TA ngày 04/5/2023 đưa ông B vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, mà không đưa ông Đ1 vào tham gia tố tụng, mặc dù các con của ông Đ1 (do ông Đ1 đã chết) đã gửi rất nhiều đơn yêu cầu Tòa án đưa người tham gia tố
7
tụng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ nhưng lại không được Tòa án chấp nhận. Lẽ ra trong trường hợp này, cấp sơ thẩm phải tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ lại, xác minh các căn nhà đang được xây cất là của ai, từ đó mới có đủ cơ sở để đưa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án. Việc cấp sơ thẩm không đưa các con của ông Đ1 vào tham gia tố tụng là bỏ sót người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Đ1.
[3.2] Cũng tại phiên tòa sơ thẩm này các đương sự trình bày theo như nội dung trong tờ thuê đất thì ông H chỉ thuê đất của ông T là 1.000m², nhưng thực tế thì ông H lại sử dụng hết toàn bộ diện tích đất mà ông T được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03746cE ngày 25/5/2011, diện tích 1.499m² và Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất số CH03747cE ngày 25/5/2011, diện tích 1.500m² mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm khác, cấp sơ thẩm lại ngừng phiên tòa và cho ông T làm đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông H phải trả lại toàn bộ diện tích đất trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên và cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu này và tiếp tục giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự, thì các căn cứ tạm ngừng phiên tòa không có căn cứ nào cho phép tạm ngừng phiên tòa để thụ lý tiếp tục yêu cầu khởi kiện bổ sung của đương sự. Nếu tại phiên tòa có phát sinh tình tiết mới, thì cấp sơ thẩm cũng phải xác minh làm rõ thực tế ông H có sử dụng hết phần diện tích đất của ông T như đã trình bày hay không, nếu có thì ngoài diện tích đất ông H sử dụng do thuê của ông T, ông H còn sử dụng luôn cả phần diện tích đất khác của ông T, thì phải hướng dẫn các đương sự làm đơn khởi kiện tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bằng một vụ kiện dân sự khác. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm chính ông T và ông H đều khẳng định ông H chỉ sử dụng phần diện tích đất từ phía trước ra sau đến phần ao cá, từ ao cá trở về sau thì ông T đang quản lý, ông H chỉ xây dựng thêm nhà vệ sinh ở phần sau ao cá này. Điều này cho thấy cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông T để yêu cầu ông H trả lại toàn bộ diện tích đất là chưa đúng với bản chất của vụ án.
[3.3] Tại các Biên bản hòa giải các bên cũng không thống nhất về diện tích đất sử dụng. Phía ông T cho rằng chỉ cho ông H thuê diện tích đất 1.000m², nhưng ông H lại sử dụng diện tích đất của ông là 1.500m², ông H không thừa nhận, ông chỉ sử dụng đúng diện tích đất thuê của ông T là 1.000m². Nội dung này cũng không được cấp sơ thẩm làm rõ, thực tế ông H sử dụng diện tích đất là bao nhiêu. Trong Bảng vẽ trích đo hiện trạng cũng không thể hiện ông H sử dụng phần đất thuê của ông T trong giấy chứng nhận nào của ông T được cấp, chỉ nêu tổng thể là nằm trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không nêu chi tiết cụ thể nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào diện tích bao nhiêu.
[3.4] Sau khi đo đạc, nhận thấy hình thể khu đất theo 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T và Bản đồ địa chính có sai lệch, nhằm để có cơ
8
sở xác định ranh giới theo 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty TNHH Đ2 đã có Công văn số 41/2022 ngày 27/9/2022 yêu cầu Tòa án có Văn bản đề nghị Văn phòng Đ3 chi nhánh C cho Công ty T2 hồ sơ khống chế đo vẽ chi tiết 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện. Như vậy Bản trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Công ty TNHH Đ2 chưa đảm bảo về tính chính xác cũng như tính pháp lý, nhưng cấp sơ thẩm lại sử dụng để làm căn cứ giải quyết vụ án là không có cơ sở.
[3.5] Trường hợp cấp sơ thẩm ngừng phiên tòa, chấp nhận thụ lý yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông T, thì vụ án phải được giải quyết lại từ đầu và phải tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng cấp sơ thẩm chỉ mời các đương sự hòa giải lần đầu, phía bị đơn, người liên quan vắng mặt, cấp sơ thẩm lại lập Biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử (vi phạm khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự ). Tại phiên tòa xét xử lần đầu cũng vắng mặt các đương sự nói trên, cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ (vi phạm khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự) là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của đương sự.
[3.6] Tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm lại tuyên chung chung, buộc ông H, ông B di dời cây trồng, vật kiến trúc để trả lại diện tích đất cho ông T theo Bảng trích đo hiện trạng của Công ty TNHH Đ2, nhưng không thể hiện cụ thể diện tích đất phải trả là bao nhiêu, nằm ở các điểm nào trên Bảng trích đo hiện trạng.
Từ những nhận định trên cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng từ khi giai đoạn giải quyết vụ án, đến khi đưa vụ án ra xét xử, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, từ đó dẫn đến nội dung giải quyết vụ án bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên yêu cầu kháng cáo của ông H là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, do đó cần hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số số 51/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên ông H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn H;
- - Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, chuyển hồ
9
sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Đỗ Văn H số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003484 ngày 22/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tấn Tài |
10
Bản án số 93B/2024/DS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê qsdđ; yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc; cây trồng và tài sản khác trên đất
- Số bản án: 93B/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê QSDĐ; yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc; cây trồng và tài sản khác trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê QSDĐ
