Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 969/2024/DS-PT

Ngày 28/11/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Anh Minh

Các Thẩm phán:

  • Bà Huỳnh Thị Như Hà
  • Bà Mai Thị Mỹ Tiên

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Lương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 727/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”; Do Bản án dân sự sơ thẩm số 3181/2024/DS-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5602/2024/QĐ-PT ngày 22/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16333/2024/QĐ-PT ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1978;

Địa chỉ: số B N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hồng Â, sinh năm 1986

Địa chỉ liên hệ: 345/5 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số công chứng 003881, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/5/2022) (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Mạnh H - Luật sư Công ty L1, Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt).

- Bị đơn: Công ty TNHH K

Địa chỉ: số A P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

1

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Võ Anh T, chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hàm Z, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Giấy ủy quyền số 02/2022/UQ-CTY ngày 29/3/2022), Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Thanh D1, sinh năm 1951 (Vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: số E đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH K.

- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

· Nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 08/02/2020, giữa ông Nguyễn Mạnh D và Công ty TNHH K (sau đây viết tắt là Công ty K) có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý. Theo thỏa thuận: Công ty K có trách nhiệm thực hiện các công việc pháp lý để tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Huỳnh Thanh D1 cho toàn bộ các thửa đất sau:

  • + Thửa đất số 565 (diện tích 573 m²), mục đích sử dụng: cây lâu năm; (Quyết định số 1260/QĐ-UB-QLĐT ngày 29/3/2002 của U, nay là UBND thành phố T).
  • + Thửa đất 472 (diện tích 456 m²); thửa 560 (diện tích 1.366m²); thửa 561 (diện tích: 2.155 m²); thửa đất 563 (diện tích 1.695m²); thửa đất 564 (diện tích 264 m²; tổng cộng diện tích 6.709 m² (Quyết định số 876/1998/QĐ-UB-QLĐT gày 21/11/1998 của U, nay là thành phố T).
  • + Ngoài ra còn khoảng 993 m² đất phía trước không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ có giấy viết tay mua bán (diện tích này có thể nhiều hơn hoặc ít hơn khi đo vẽ thực tế sẽ có con số chính xác).

Yêu cầu cần có của Hợp đồng dịch vụ pháp lý là: Ông Nguyễn Mạnh D nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Huỳnh Thanh D1 cho toàn bộ các thửa đất trên, bao gồm cả diện tích đất xin công nhận thêm, để đạt được tổng diện tích được quyền sử dụng đất khoảng 7.700 m².

Thù lao của hợp đồng là 430.000.000 đồng, được chia thành 03 đợt:

  • + Đợt 1: 180.000.000 đồng, ngay khi ký hợp đồng.

2

  • + Đợt 2: 150.000.000 đồng, ngay khi ông D nhận được biên nhận hồ sơ nhập thửa đề nghị công nhận thêm đất (02 - 04 tháng kể từ ngày ký hợp đồng).
  • + Đợt 3: 100.000.000 đồng ngay khi ông D nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thời hạn thực hiện hợp đồng: không quá 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng.

Ngay sau khi ký hợp đồng ngày 08/02/2020, ông D đã thanh toán theo yêu cầu cho Công ty K tổng cộng 330.000.000 đồng, theo 02 lệnh chuyển khoản: Ngày 10/02/2020 chuyển khoản 180.000.000 đồng và ngày 17/7/2020 chuyển khoản 150.000.000 đồng.

Sau khi nhận được tiền từ ông Nguyễn Mạnh D, tổng cộng 330.000.000 đồng, Công ty K đã không hoàn thành được yêu cầu cần có của hợp đồng trong thời gian thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận giữa hai bên và viện đủ lý do để thoái thác và né tránh trách nhiệm.

Sau khi ông D liên lạc và làm việc với ông T (là người đại diện theo pháp luật của Công ty K) thì ông D biết được Công ty TNHH K là Công ty TNHH Một thành viên do ông Phạm Võ Anh T đứng ra thành lập tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, đăng ký lần đầu vào ngày 27/04/2018, với chức năng ngành nghề đăng ký là:

  • + Vận tải hàng hóa bằng đường bộ, mã ngành: 4933
  • + Kho bãi và lưu giữ hàng hóa, mã ngành: 5210
  • + Quảng cáo, mã ngành: 73 10
  • + Đại lý, môi giới, đấu giá hàng hóa, mã ngành: 4610
  • + Đại lý, môi giới, đấu giá hàng hóa, mã ngành: 4661
  • + Tư vấn, môi giới, đấu giá bất động sản, đấu giá quyền sử dụng đất

Chi tiết: Tư vấn, môi giới bất động sản, mã ngành: 6820 (chính).

Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ở trên thì Công ty K không có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý, bởi việc cung cấp dịch pháp lý như hợp đồng mà công ty K ký với ông Nguyễn Mạnh D thuộc phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Phụ lục 4 Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đính kèm Luật Đầu tư hiện hành. Và cụ thể là ngành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý thuộc về Hành nghề luật sư được quy định cụ thể trong Luật luật sư hiện hành và Công ty K không có chức năng hành nghề luật sư.

Việc Công ty K không có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý nhưng cố ý ký hợp đồng dịch vụ pháp lý trái pháp luật, nhận tiền từ ông Nguyễn Mạnh D và không thực hiện các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến gây thiệt hại cho phía ông D 330.000.000 đồng.

3

Do vậy nay ông Nguyễn Mạnh D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Yêu cầu tuyên bố hợp đồng dịch vụ pháp lý được kí kết giữa Công ty TNHH K và ông Nguyễn Mạnh D ngày 08/02/2020 vô hiệu;
  • - Yêu cầu Công ty TNHH K phải trả lại cho ông Nguyễn Mạnh D số tiền là 330.000.000 đồng.

Bị đơn Công ty TNHH K có người đại diện theo ủy quyền là ông Hàm Z trình bày:

+ Về quá trình vụ việc dẫn đến ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 08/02/2020:

Vào năm 2019, Ông Nguyễn Mạnh D có ký Hợp đồng đặt cọc công chứng với ông Huỳnh Thanh D1 (số công chứng: 000915) về việc chuyên nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại các thửa đất:

  • - Một phần thửa 472; Tờ bản đồ số: 06; Địa chỉ: 4 ấp T, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, số vào số: 3341/2004 do U cấp ngày 15/07/2004;
  • 2. Thửa đất số: 565; Tờ bản đồ số: 06; Địa chỉ: ấp T, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: 02338QSDĐ/PH do U cấp ngày 29/03/2002;
  • 3. Thửa đất số: 472, 560, 561, 563, 564; Tờ bản đồ số: 06; Địa chỉ: tấp T, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào số: 00744 QSDĐ/PH do U cấp ngày 26/02/1998.
  • 4. Một phần diện tích đất khác (gọi là đất Biều) mà các bên xác nhận sẽ làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận (mục đích sử dụng: đất nông nghiệp). phần diện tích đất này được thể hiện trong Số thuế nông nghiệp Gia đình, số: 1379 ngày 26/05/1999.

Sau khi ký Hợp đồng đặt cọc công chứng, ông Nguyễn Mạnh D (có sự tham gia của ông Huỳnh Thanh D1) đã liên hệ với Công ty K để thực hiện các công việc liên quan đến các thửa đất nêu trên, cụ thể:

  • - Đề nghị công ty liên hệ các cơ quan có chức năng lập và kiểm định bản vẽ, lập thủ tục, chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phần đất được xác định là đất “Biều” được thể hiện trong Sổ thuế nông nghiệp Gia đình, số: 1379 ngày 26/05/1999.

4

  • - Đề nghị công ty liên hệ các cơ quan có chức năng lập và kiểm định bản vẽ, lập thủ tục, chuẩn bị hồ sơ đề nghị nhập thửa đất đối với các thửa đất đã có giấy chứng nhận;

Sau khi bàn bạc và trao đổi thì các bên đã thống nhất thỏa thuận cùng nhau lập Biên bản thỏa thuận 03 bên ký ngày 06/02/2020, bao gồm: ông Huỳnh Thanh D1: chủ sở hữu, sử dụng; Công ty TNHH K: bên làm dịch vụ và ông Nguyễn Mạnh D: bên nhờ dịch vụ.

Đến ngày 08/02/2020, để thống nhất về mặt chi phí yêu cầu thực hiện công việc ông Nguyễn Mạnh D đã yêu cầu Công ty K ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý mặc dù Công ty đã có giải thích 02 từ “Pháp lý” nên “bỏ”. Tuy nhiên, ông D nói, việc ký Hợp đồng là để biết về cách thức thanh toán để sau này trao đổi lại với ông D1 về mặt chi phí cho nên Công ty đã chấp nhận. Ngày 20/02/2020, các bên lại một lần nữa ký Biên bản thỏa thuận 03 bên để khẳng định về nội dung công việc sẽ thực hiện.

+ Về nội dung công việc: Theo Hợp đồng số: 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 giữa Công ty TNHH K với ông Nguyễn Mạnh D và Biên bản thỏa thuận vào các ngày 06/02/2020; ngày 28/04/2020 thì nội dung công việc được xác định như sau:

  • - Trích lục sao lục hồ sơ hành chính;
  • - Tiến hành đo vẽ, kiểm định bản vẽ;
  • - Tiến hành cập nhật thay đổi chủ sở hữu theo Văn bản khai nhận di sản (tên ông Huỳnh Thanh D1);
  • - Tiến hành thủ tục cấp đổi, nhập thửa các giấy chứng nhận:
    • + GCN số: 3341/2004 do U cấp ngày 15/07/2004;
    • + GCN số: 02338 QSDĐ/PH do U cấp ngày 29/03/2002;
    • + GCN số: 00744 QSDĐ/PH do U cấp ngày 26/12/1998.
  • - Tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận phần đất nông nghiệp còn lại (phần phía trước mà ông Huỳnh Thanh D1 sử dụng - cam kết không tranh chấp).

Ngay sau khi ký hợp đồng, Công ty K đã tiến hành ngay các bước cần thiết để tiến hành các thủ tục trên, cụ thể:

  • + Công ty tiến hành ký kết hợp đồng đo đạc với công ty có chức năng đo đạc (Công ty TNHH T1) để hoàn tất thủ tục, chuẩn bị nộp hồ sơ cấp đổi các giấy chứng nhận:
    • + GCN số: 3341/2004 do U cấp ngày 15/07/2004;
    • + GCN số: 02338 QSDĐ/PH do U cấp ngày 29/03/2002;

5

  • + GCN số: 00744 QSDĐ/PH do U cấp ngày 26/12/1998.

Tuy nhiên, trong quá trình nộp hồ sơ kiểm định, do khách hành có sự che dấu trong công việc nên gây trở ngại rất lớn cho công tác kiểm định, tốn khá nhiều thời gian (tìm kiếm, trích lục lại bản vẽ đã kiểm định trước đây) và chi phí thực hiện. Cụ thể, ông Huỳnh Thanh D1 đã lập hồ sơ, kiểm định bản vẽ các thửa đất thuộc các giấy chứng nhận trên (Bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH X lập ngày 20/09/2019 và đã được kiểm định số: 8319/VPĐKĐĐ-CNQ9 ký ngày 08/11/2019). Và để được kiểm định lại thì phải thu hồi 02 bản chính bản vẽ trên.

Công ty đã liên hệ và chờ khách hàng (ông D, ông D1) cung cấp lại bản chính và trả lời để công ty tiến hành tiếp công việc, thời gian chờ trả lời khoảng 03 tuần (21 ngày). Sau đó, công ty nhận được phản hồi của khách hàng là không có và không biết bản vẽ trên.

Nhận được câu trả lời của khách hàng, công ty đã tiến hành ngay thủ tục trích lục bản vẽ trên (15 ngày làm việc) và soạn đơn cho ông D1 ký có mặt.

Ngày 24/03/2020, công ty đã hoàn thành bản vẽ kiểm định các thửa đất thuộc các giấy chứng nhận trên (bản vẽ kiểm định số: 8781/VPĐKĐĐ-CNQ9 ký ngày 24/03/2020) và sau đó thay thế lại bằng bản vẽ kiểm định số: 9013/VPĐKĐĐ-CNQ9 ký ngày 10/06/2020).

Ngay sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, công ty đã gọi điện mời ông Huỳnh Thanh D1 lên U - Bộ phận tiếp nhận hồ sơ để nộp hồ sơ nhập thửa cấp đổi các giấy chứng nhận trên thành 01 giấy chứng nhận mới.

Tuy nhiên, sau khi trao đổi, ông Huỳnh Thanh D1 và ông Nguyễn Mạnh D cho rằng không cần thiết cấp đổi các giấy chứng nhận trên thành 01 giấy nên đề nghị công ty không cần làm thủ tục này, tức là thủ tục cấp đổi, nhập thửa công ty đã hoàn thành (vì khách hàng thay đổi yêu cầu) và điều này đã được khách hành (cả ông D và ông D1) xác nhận.

  • - Tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận phần đất nông nghiệp còn lại (phần phía trước mà ông Huỳnh Thanh D1 sử dụng - cam kết không tranh chấp).

Song song với hồ sơ cấp đổi, công ty cũng đã hoàn thành bản vẽ kiểm định cấp mới (cấp thêm phần đất phía trước), bản vẽ kiểm định số: 9014/VPĐKĐĐ-CNQ9 ký ngày 10/06/2020.

Đến ngày 15/07/2020, sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ liên quan đến việc cấp mới giấy chứng nhận, công ty đã gọi điện mời ông Huỳnh Thanh D1 lên U - Bộ phận tiếp nhận hồ sơ để nộp hồ sơ cấp giấy. Ngày 16/07/2020, công ty đã nộp hồ sơ và giao cho ông Huỳnh Thanh D1 biên nhận hồ sơ số: 26866.120.20.017114.

6

Sau đó, hồ sơ chuyển xuống phường P để niêm yết công khai. Lúc này, hồ sơ được cán bộ thụ lý yêu cầu bổ sung đơn cam kết của các hộ gồm, hộ ông Nguyễn Văn S; hộ ông Huỳnh Thanh H1 và hộ ông Đỗ Văn H2. Công ty đã báo cáo sự việc này cho khách hàng (ông D1 và ông D) để xử lý và nói rõ nếu không có sự đồng ý của các hộ dân trên thì hồ sơ sẽ có công văn trả.

Sau đó, công ty nhận được phản hồi của khách hàng là không liên lạc được với các hộ trên nên đồng ý nhận công văn.

Ngày 24/08/2020, U có công văn số: 2899/UBND-TNMT về việc chuyển trả hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho ông Huỳnh Thanh D1.

Nội dung công văn: “Căn cứ tài liệu lưu trữ thửa 336 do ông Đỗ Văn H2 đăng ký, thửa 337 do ông Nguyễn Văn S đăng ký (theo TL 299/TTg)....” nên chưa có sơ sở cấp giấy.

Tất cả các nội dung và công việc thực hiện Công ty K đều có thông báo và được khách hàng (ông D, ông D1) chấp thuận.

+ Về thời gian thực hiện hợp đồng: Như đã trình bày ở các phần trên, về thời gian thực hiện hợp đồng, Công ty đã có thông báo và đã được khách hàng (cả ông D và ông D1) chấp thuận. Bên cạnh đó, việc chậm trễ thời gian cũng một phần lỗi thuộc về khách hành, cụ thể: Chờ khách hàng kiểm tra lại hồ sơ; chờ khách hàng sắp xếp ngày ký hồ sơ; chờ khách hàng thỏa thuận lại việc mua bán; chờ khách hàng liên hệ với các hộ dân ký ranh đất.

Và đặc biệt, công ty đã có thông báo về việc phần đất cấp mới đang có tranh chấp và đã có đề nghị khách tiến hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp.

Từ các cơ sở trên có thể khẳng định, tất cả các nội dung theo yêu cầu của hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 cũng như các văn bản thỏa thuận đã ký kết đến nay đã được thực hiện xong và căn cứ vào điểm e khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ ông Nguyễn Mạnh D thanh toán cho Công ty K số tiền 330.000.000 đồng là phù hợp, tương ứng với từng tiến độ công việc theo quy định tại hợp đồng dịch vụ pháp lý. Phía Công ty K đã hoàn thành đúng tiến độ công việc theo quy định, mỗi khi hoàn thành đều có đầy đủ biên bản, công văn thông báo cho phía khách hàng (ông D, ông D1). Do đó, Công ty TNHH K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3181/2024/DS-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh D:

Tuyên bố Hợp dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ký ngày 08/02/2020 giữa Công ty TNHH K và ông Nguyễn Mạnh D (đại diện ông D1) vô hiệu.

7

Công ty TNHH K có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Mạnh D số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh D đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH K trả số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Kháng cáo, kháng nghị:

1. Kháng cáo:

Ngày 30/7/2024, bị đơn Công ty TNHH K có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 3181/2024/DS-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2. Kháng nghị:

Ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 328/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm số 3181/2024/DS-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:

Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty K có trách nhiệm trả lại cho ông D số tiền 100.000.000 đồng trong tổng số tiền 330.000.000 đồng đã nhận. Công ty K được giữ lại số tiền 230.000.000 đồng cho công việc đã thực hiện do Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 không vô hiệu.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Đại diện bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng Công ty K có chức năng thực hiện các công việc đã ký kết với ông Nguyễn Mạnh D trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020; Công ty K đã thực hiện các công việc ký kết đúng thời hạn ghi trong hợp đồng. Do đó bị đơn không đồng ý với bản án sơ thẩm tuyên Hợp đồng vô hiệu và hoàn trả tiền, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Đại diện nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

8

Tại phiên tòa phúc thẩm Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 328/QĐKNPT-VKS-DS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh, sửa Bản án sơ thẩm số 3181/2024/DS-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Công ty TNHH K nộp đơn kháng cáo, biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Đơn kháng cáo và Kháng nghị được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thanh D1, bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH K yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử nhận thấy:

9

[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 ký giữa ông Nguyễn Mạnh D và Công ty K vô hiệu, xét:

Tại Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 ký giữa ông Nguyễn Mạnh D và Công ty K, về nội dung các bên thỏa thuận Công ty K thực hiện các công việc sau :

  • - Trích lục sao lục hồ sơ hành chính;
  • - Tiến hành đo vẽ, kiểm định bản vẽ;
  • - Tiến hành cập nhật thay đổi chủ sở hữu theo Văn bản khai nhận di sản (tên ông Huỳnh Thanh D1);
  • - Tiến hành thủ tục cấp đổi, nhập thửa các giấy chứng nhận:
    • + GCN số: 3341/2004 do U cấp ngày 15/07/2004;
    • + GCN số: 02338 QSDĐ/PH do U cấp ngày 29/03/2002;
    • + GCN số: 00744 QSDĐ/PH do U cấp ngày 26/12/1998.
  • - Tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận phần đất nông nghiệp còn lại (phần phía trước mà ông Huỳnh Thanh D1 sử dụng - cam kết không tranh chấp).

Xét nội dung và hình thức Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 phù hợp với quy định của pháp luật, đây là hợp đồng dịch vụ quy định tại Điều 513 Bộ Luật dân sự 2015, do đó yêu cầu khởi kiện tuyên vô hiệu hợp đồng của nguyên đơn là không có cơ sở. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định hợp đồng vô hiệu do chủ thể không có năng lực pháp luật quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 là không đúng vì căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0315014503 ngày 27/4/2018 của Công ty K thì ngành nghề đăng ký kinh doanh có ghi Tư vấn, môi giới bất động sản. Do đó căn cứ khoản 2, khoản 8 Điều 3, khoản 2 Điều 63, khoản 2 Điều 74 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 thì Công ty K được thực hiện các công việc ký kết trong Hợp đồng 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020. Nội dung công việc thỏa thuận trong hợp đồng không trái pháp luật, chủ thể thực hiện có năng lực pháp luật theo quy định, do đó Hợp đồng 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 ký giữa ông Nguyễn Mạnh D và công ty K có hiệu lực pháp luật theo quy định.

[2.2] Xét quá trình thực hiện hợp đồng Công ty K đã tiến hành các công việc để xin cấp giấy chứng nhận theo nội dung hợp đồng ký kết, tuy nhiên một phần công việc không thực hiện được là do lỗi khách quan, cơ quan chức năng có thẩm quyền xác định chưa đủ cơ sở cấp giấy chứng nhận cho ông D1 theo như nội dung Công văn trả lời số 2599 ngày 24/8/2020 Ủy ban nhân dân Quận U. Căn cứ vào thời gian trả lời của Công văn số 2599 ngày 24/8/2020 Ủy ban

10

nhân dân Quận U thể hiện Công ty K đã thực hiện công việc theo hợp đồng và không vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng.

Do Hợp đồng 05-2020/HĐ-HK ngày 08/02/2020 không vô hiệu do đó bên sử dụng dịch vụ phải trả công theo phần dịch vụ bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện, các bên đều xác nhận ông D đã chuyển thanh toán đợt 1 và đợt 2 với tổng số tiền 330.000.000 đồng; Công ty K đã thực hiện các công việc như: Cấp nhật thay đổi chủ sở hữu, đo vẽ, kiểm định bản vẽ, nộp hồ sơ nhập thửa ..., căn cứ các phiếu thu và biên nhận hồ sơ thể hiện các công việc thỏa thuận trong hợp đồng công ty K đã thực hiện, số tiền 330.000.000 đồng ông D đã thanh toán cho Công ty K tương ứng với công việc đã hoàn thành, do đó Công ty K được trả thù lao số tiền này là phù hợp, không có cơ sở hoàn trả lại cho ông D.

Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có cơ sở chấp nhận do đó cần sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.3] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[2.4] Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào các điều 513, 515, 519 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2, khoản 8 Điều 3, khoản 2 Điều 63, khoản 2 Điều 74 Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH K.

3. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 3181/2024/DS-ST ngày 17/7/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp dịch vụ pháp lý số 05-2020/HĐ-HK ký ngày

11

08/02/2020 giữa Công ty TNHH K và ông Nguyễn Mạnh D (đại diện ông D1) và yêu cầu Công ty TNHH K trả lại cho ông Nguyễn Mạnh D số tiền 330.000.000₫ (Ba trăm ba mươi triệu đồng).

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Mạnh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 16.500.000₫ (Mười sáu triệu năm trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.550.000đ (Tám triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/0024107 ngày 05/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Mạnh D còn phải nộp thêm 7.950.000₫ (Bảy triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).

2.2. Án phí phúc thẩm:

Người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0028032 ngày 14/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - TAND Tp. Thủ Đức, TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS Tp. Thủ Đức, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (20).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Anh Minh

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 969/2024/DS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 969/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger