Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 968/2024/HC-PT

Ngày: 09 - 9 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Nguyễn Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 429/2024/TLPT-HC ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2024/HC-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5409/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số C tổ A, ấp B, P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Bà Phạm Thị Minh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số F N, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
  2. Ông Lưu Phước T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ C, khu phố A, phường P, thành phố P. (vắng mặt)

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh S, chức vụ: Phó Chủ tịch. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Xuân V, Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân V, Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Văn N và người đại diện hợp pháp bà Phạm Thị Minh H trình bày:

Ông Nguyễn Văn N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ông Nguyễn Văn N và Công ty Cổ phần T1, được Văn phòng C công chứng vào ngày 17/01/2020. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Nguyễn Văn N thực hiện thủ tục đăng ký biến động và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vào ngày 21/01/2021, số Giấy chứng nhận DA 555047, số vào sổ CS 0008, thửa số 370, tờ bản đồ số 3 tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, mục đích sử dụng là đất thương mại dịch vụ. Ông Nguyễn Văn N có nhu cầu chuyển mục đích từ đất thương mại dịch vụ sang đất ở, kiểm tra quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại thành phố P, thì thửa đất số 370 có một phần diện tích 42,9m² là đất ở. Do đó, ông Nguyễn Văn N đã thực hiện các thủ tục để xin chuyển mục đích như: đăng ký nhu cầu sử dụng đất, trích đo bản vẽ và nộp hồ sơ xin chuyển mục đích. Nhưng ngày 06/9/2022, Phòng Tài Nguyên và môi trường thành phố P có công văn số 171/TB-TNMT về việc giải quyết hồ sơ xin phép chuyển mục đích, trả lại hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N. Việc Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P có Thông báo trả hồ sơ không cho chuyển mục đích là không đúng quy định pháp luật.

Tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất:

  1. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
  2. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Và Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 về chuyển mục đích:

  1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
    • Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;
    • Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm
    • Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;
    • Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
    • Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
    • Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
    • Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.
  2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng.

Căn cứ quy định trên, trường hợp thửa đất của ông Nguyễn Văn N đủ điều kiện chuyển mục đích nhưng Phòng T lại trả hồ sơ là không đúng quy định.

Ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 171/TB-TNMT ngày 06/09/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Bình Thuận, buộc UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Bình Thuận thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến tại Văn bản số 458/UBND-NC ngày 03/02/2023:

Theo hồ sơ lưu trữ thể hiện ông Nguyễn Văn N được Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 555047 ngày 22/01/2021, tại thửa đất số 370, thuộc tờ bản đồ số 03, diện tích 109,4 m²; mục đích sử dụng: Đất thương mại dịch vụ; thời hạn sử dụng đất đến ngày 31/12/2025; nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần. Liên quan đến nội dung xin chuyển mục đích sử dụng đất từ đất thương mại dịch vụ sang đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng đất lâu dài tại thửa đất số 370 thuộc tờ bản đồ số 3 với diện tích 42,9m² tại phường Đ, thành phố P. Ngày 04/3/2022, UBND thành phố P đã có Công văn số 950/UBND-NC về việc trả lời Đơn của ông Nguyễn Văn N, với nội dung: “Theo hồ sơ thể hiện nguồn gốc của thửa đất số 370, thuộc tờ bản đồ số 03 là đất của Nhà nước cho Công ty Cổ phần T1 (trước đây là Công ty T1) thuê đất và sau này Công ty chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân. Căn cứ Khoản 1 Điều 125 và điểm đ khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai năm 2013 thì trường hợp ông Nguyễn Văn N nếu được cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất thương mại dịch vụ sang đất ở thì thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài. Và tại điểm d, g khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 có xác định đất ở, đất thương mại dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp thuộc loại đất phải đấu giá quyền sử dụng đất. Do đó, cũng cần phải xác định trong trường hợp này có phải đấu giá quyền sử dụng đất hay không khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Liên quan đến nội dung vụ việc, tại Công văn số 211/STNMT-CCQLĐĐ ngày 14/01/2022 của Sở T đã có ý kiến hướng dẫn đối với hồ sơ xin phép chuyển mục đích sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N như sau: “Việc chuyển mục đích từ đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau trong xử lý đấu giá hay không đấu giá quyền sử dụng đất, nội dung này UBND tỉnh B đã có Công văn số 4759/UBND-KT ngày 13/12/2021 xin ý kiến Bộ T2 hướng dẫn vướng mắc trong lĩnh vực đất đai, đến nay Bộ T2 chưa có ý kiến hướng dẫn”. Từ các cơ sở nêu trên, UBND thành phố P nhận thấy việc ông Nguyễn Văn N xin phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất thương mại dịch vụ sang đất ở tại đô thị đối với thửa đất số 370, thuộc tờ bản đồ số 03, diện tích 42,9m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 555047 do Sở T cấp ngày 21/01/2021 là không có cơ sở xem xét giải quyết. UBND thành phố P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N vì yêu cầu của ông N không có cơ sở chấp nhận.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2024/HC-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 52 Luật Đất đai; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N về việc hủy Thông báo số 171/TB-TNMT ngày 06/9/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 06/02/2024, người khởi kiện ông Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông ông Nguyễn Văn N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Thửa đất ông Nguyễn Văn N xin chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở đô thị có nguồn gốc sử dụng là do ông N nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước cho Công ty Cổ phần T1 thuê đất, trả tiền một lần, có thời hạn sử dụng đất đến ngày 31/12/2025, mục đích sử dụng là đất thương mại dịch vụ. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Nguyễn Văn N thực hiện thủ tục đăng ký biến động và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vào ngày 21/01/2021, số Giấy chứng nhận DA 555047, số vào sổ CS 0008, thửa số 370, tờ bản đồ số 3 tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, mục đích sử dụng là đất thương mại dịch vụ, thời hạn sử dụng đến ngày 31/12/2025. Như vậy, ông N đã được cấp quyền sử dụng đất đúng mục đích và thời hạn sử dụng đất đã được công nhận. Thời điểm nhận chuyển nhượng, ông N biết rõ mục đích sử dụng đất được cấp và thời hạn sử dụng đất như đã nêu trên nhưng ông N vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng.

Ông Nguyễn Văn N yêu cầu được chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở đô thị mà theo quy định của Luật đất đai có thời hạn sử dụng lâu dài là không phù hợp với thời hạn sử dụng đất ông N đã nhận chuyển nhượng và được công nhận trước đó.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 52 Luật Đất đai thì việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào:

“1. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

2. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.”.

Ngày 22/01/2024, UBND thành phố P đã có Công văn số 475/UBND-NC với nội dung: Theo quy hoạch sử dụng đất hiện nay (Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của thành phố P, được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 536/QĐ-UBND ngày 23/3/2023) và kế hoạch sử dụng đất hiện nay (kế hoạch sử dụng năm 2023 của thành phố P được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1138/QĐ-UBND ngày 16/6/2023) thì thửa đất ông Nguyễn Văn N xin chuyển mục đích sử dụng từ đất thương mại dịch vụ thành đất ở đô thị không thuộc quy hoạch đất ở tại đô thị mà thuộc quy hoạch đất cơ sở S1.

Mặc dù thời điểm ban hành Thông báo số 171/TB TNMT ngày 06/9/2022, UBND tỉnh B chưa có Quyết định số 536/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch sử dụng đất và Quyết định số 1138/QĐ-UBND phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2023, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì theo các quyết định trên, thửa đất ông Nguyễn Văn N xin chuyển mục đích sử dụng không phù hợp với quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất hiện nay của thành phố P. Căn cứ Điều 52 Luật Đất đai, diện tích đất thuộc thửa số 370, tờ bản đồ số 03, diện tích 109,4m² ông N xin chuyển mục đích sử dụng không đủ điều kiện cho chuyển mục đích sang đất ở đô thị.

Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông N về việc hủy Thông báo số 171/TB-TNMT ngày 06/9/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Nguyễn Văn N không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2024/HC-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Áp dụng Điều 52 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N về việc hủy Thông báo số 171/TB-TNMT ngày 06/9/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P.

Án phí hành chính sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0008465 ngày 06/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

Án phí hành chính phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0000166 ngày 27/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - Đương sự (3);
  • - Lưu VP (5), HS (2).15b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 968/2024/HC-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 968/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn N yêu cầu hủy Thông báo số 171/TB-TNMT ngày 06/9/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Phan Thiết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger