|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 968/2023/HS-PT Ngày: 18 - 12- 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Phan Đức Phương
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 729/2023/TLPT - HS ngày 26 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Trọng H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2023/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trọng H, sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Thuận. Tên gọi khác: Bóng. Nơi đăng thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P. Chỗ ở: Số I đường N thuộc khu phố A, phường P, thành phố P. Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12. Cha là Nguyễn Long P, sinh năm 1961 (chết 2020) và mẹ là Trần Thị T, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền sự: không; tiền án: Ngày 07/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2022 (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. ( có mặt )
Người bào chữa của bị cáo: Luật sư Phạm Thị Minh H1, Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. ( có mặt )
(Trong vụ án còn có bị cáo Đỗ Minh T1, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, thông qua bạn bè ngoài xã hội, bị cáo Nguyễn Trọng H có quan hệ quen biết với một người thanh niên tên H2 (không rõ nhân thân) ở tỉnh Đồng Nai. Quá trình quen biết, bị cáo H biết H2 bán ma túy nên bị cáo H đã liên hệ hỏi mua ma túy của H2 thì được H2 đồng ý.
Ngày 26/02/2023, bị cáo sử dụng điện thoại hiệu iPhone gắn sim số 0347.128.xxx của bị cáo gọi cho H2 qua số điện thoại (không xác định, bị cáo chỉ nhớ số đuôi là 53) hỏi mua ma túy đá, thuốc lắc và K của H2 với số tiền 70 triệu đồng nhằm mục đích đem về sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Bị cáo nói sẽ trả trước cho H2 20 triệu đồng, còn 50 triệu đồng đưa sau thì H2 đồng ý. H2 nói với bị cáo khoảng 04 giờ sau sẽ có người mang ma tuý ra giao cho bị cáo, khi nào bị cáo nhận ma tuý thì đưa tiền cho người này.
Đến 17 giờ 00 cùng ngày, có một số điện thoại (không xác định) gọi vào số điện thoại 0347.128.xxx của bị cáo và nói bị cáo đi đến Bến xe N (thuộc phường Đ, thành phố P) để nhận ma tuý. Bị cáo điều khiển xe máy đi đến Bến xe N, tại đây bị cáo gặp 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân) đeo khẩu trang đi xe máy và người này đưa cho bị cáo một khẩu trang y tế. Bị cáo không mở ra kiểm tra, nhưng bị cáo biết bên trong khẩu trang có chứa ma tuý và bị cáo đưa cho người này số tiền 20 triệu đồng. Sau khi mua bán ma túy xong người này đi đâu bị cáo không rõ, còn bị cáo đem khẩu trang có chứa ma tuý bên trong chạy về nhà. Về đến nhà, bị cáo mở khẩu trang ra kiểm tra thì thấy bên trong có chứa 03 gói ma túy đá, 01 gói ma tuý Ketamin và 01 gói ma túy thuốc lắc chứa 13 viên. Sau đó, bị cáo phân ra 01 gói nhỏ ma túy Ketamine và 01 gói chứa 11 viên thuốc lắc cất vào túi da màu xanh để trên ghế sopha dài tại phòng khách nhằm mục đích bán cho người khác, số ma túy còn lại bị cáo cất trong bịch nylon màu hồng để trong tủ bếp nhằm mục đích để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời.
Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/02/2023, bị cáo H đang ở nhà thuê tại số I đường N, khu phố A, phường P, thành phố P) thì có số điện thoại 0901.236.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0347.128.xxx của bị cáo H với nội dung “Lay tui 2c 1.”, bị cáo H hiểu là người này hỏi mua ma túy của H với số lượng 02 viên ma túy thuốc lắc và 01 “chấm” ma túy loại Ketamin. Bị cáo H nhắn trả lời lại “Oke” “Cho nào”, tuy nhiên tin nhắn không gửi được nên bị cáo H gọi vào số điện thoại 0901.236.xxx thì nghe giọng của một nam thanh niên, bị cáo H nói với người này một lát sẽ có người gọi lại. Sau đó, bị cáo H lấy điện thoại iPhone của H gọi cho bị cáo Đỗ Minh T1, có tên “Nhí Rô B” trong ứng dụng Messenger với nội dung nói bị cáoThông qua nhà bị cáo H lấy ma túy đi giao bán cho khách dùm bị cáo H. Đồng thời, bị cáo H nói bị cáoThông mang qua cho bị cáo H 02 ống thủy tinh và 01 đầu khò để bị cáo H làm dụng cụ sử dụng ma túy đá thì bị cáo Thông đồng ý. Bị cáo H gửi số điện thoại 0901.236.xxx của người mua ma túy qua ứng dụng Messenger cho bị cáo T1. Trong khi chờ bị cáo T1 đến, bị cáo H điện thoại rủ Phạm Ngọc P1 (tên gọi khác: M, sinh năm 2002, ở khu phố E, phường P, TP .) đến nhà bị cáo H để hát karaoke. Khi P1 đến nhà bị cáo H thì P1 ngồi trên ghế sopha nhỏ, còn bị cáo H ngồi trên ghế sopha dài tại phòng khách và cùng nhau hát karaoke. Khoảng 10 phút sau, bị cáo T1 đi xe máy biển số 59X1-27651 đến nhà gặp bị cáo H. Bị cáo T1 đưa cho bị cáo H 02 ống thủy tinh và một đầu khò, còn bị cáo H lấy ma túy từ trong túi da màu xanh để trên ghế sopha dài phân ra thành 01 gói nylon có nhíp kéo một đầu, bên trong có 02 viên ma túy thuốc lắc và 01 gói ma túy Ketamin đưa cho bị cáo T1 nói bị cáo T1 đem đến hẻm quán C trên đường T, thành phố P để giao bán cho khách và lấy số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo Thông đồng ý và cầm ma túy bị cáo H đưa đi giao bán cho khách. Sau đó, bị cáo H tiếp tục hát karaoke và lấy 01 gói ma túy đá trong gói thuốc lá hiệu 555 để lên bàn để chuẩn bị sử dụng ma túy nhưng do 02 ống thủy tinh bị cáo T1 đưa bị cáo H bị bể nên không sử dụng được. Tại thời điểm bị cáo T1 đến nhà bị cáo H thì P1 thấy bị cáo T1 đưa cho bị cáo H 02 (hai) ống thủy tinh, sau đó P1 đi vệ sinh, đến khi P1 đi ra thì thấy bị cáo T1 đã đi đâu không rõ nên không chứng kiến việc bị cáo H đưa ma túy cho bị cáo T1 giao bán cho khách và không biết gói ma túy đá để trên bàn là do bị cáo H lấy ra từ trong gói thuốc lá hiệu 555. Khi bị cáo T1 đi xe máy mang biển số 59X1-27651 đến khu vực trước số nhà B, đường T (khu phố A, phường P, thành phố P) để chuẩn bị giao bán ma túy cho khách thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo T1.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Lệnh khám khám xét khẩn cấp nhà của bị cáo H thuê tại địa chỉ: số I, đường N, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P. Khi phát hiện lực lượng Công an đến nhà để kiểm tra, khám xét, bị cáo H đã chạy đến tủ bếp lấy bịch nylon màu hồng có chứa ma túy bên trong mà bị cáo H cất giấu trước đó nhét qua cửa sổ nhằm mục đích phi tang nhưng đã bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ. Cơ quan Công an thu giữ các vật chứng sau: Thu giữ trên bàn tại phòng khách: 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (04 x 04) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); Thu giữ trên ghế sopha dài màu xanh tại phòng khách: 01 túi da màu xanh, hình chữ nhật, hở một đầu, kích thước khoảng (09 x 18) cm, bên trong có 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (04 x 08) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) và 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (04 x 08) cm, bên trong có chứa 09 (chín) viên nén màu vàng đồng, không rõ hình dạng, trên một mặt mỗi viên nén đều có một gạch (ký hiệu M3);Thu giữ phía sau khung cửa sổ dưới tầng trệt nhà của H 01 túi nylon màu hồng, có quai mở, kích thước khoảng (30 x 33) cm, bên trong có: 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (19 x 12) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4); 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (10 x 15,5) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5); 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (13,5 x 08) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M6); 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (8,5 x 5,5) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M7); 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (07 x 4,5) cm, bên trong có chứa 02 (hai) viên nén màu cam, không rõ hình dạng (ký hiệu M8); 01 (một) ống nhựa màu đen, kích thước khoảng (14 x 01) cm, được hàn kín một đầu; 01 (một) ống nhựa màu trắng, kích thước khoảng (13 x 0,6) cm, được hàn kín một đầu; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, kích thước khoảng (09 x 05) cm; 01 (một) cân tiểu ly màu đen, kích thước khoảng (10 x 06 x 01) cm. Thu giữ trên ghế sopha màu xanh tại phòng khách: 01 (một) điện thoại di động, hiệu iPhone, màu đen, bên trong chứa sim số 0347128842; 01(một) điện thoại di động, hiệu Nokia, không có nắp lưng, màu đen, bên trong chứa sim số 0522862256; 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền ngân hàng V thu giữ trong ví da màu nâu của bị cáo H.
Tại bản Kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 07/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Đỗ Minh T1: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,7771 gam; là MDMA; Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,4591 gam; là Ketamine. Tổng cộng thu giữ của Đỗ Minh T1: 0,7771 gam MDMA và 0,4591 gam Ketamine.
Tại bản Kết luận giám định số 244/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Nguyễn Trọng H: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,5895 gam; là Methamphetamine; Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 1,0507 gam; là Ketamine; Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 3,4331 gam; là MDMA; Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 64,9775 gam; là Methamphetamine; Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 82,6322 gam; là Methamphetamine; Mẫu M6 gửi giám định có khối lượng 32,0762 gam; là Methamphetamine; Mẫu M7 gửi giám định có khối lượng 2,3495 gam; là Ketamine; Mẫu M8 gửi giám định có khối lượng 0,9404 gam; là MDMA. Tổng cộng thu giữ của Nguyễn Trọng H: 180,2754 gam Methamphetamine; 4,3735 gam MDMA và 3,4002 gam Ketamine (đã qua giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 243/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết đường vân tay được thu lượm trên túi nylon màu hồng thu giữ của Nguyễn Trọng H trùng với dấu vân tay in ở ô cái trái trên chỉ bản của Nguyễn Trọng H.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2032/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đỗ Minh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm a, c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 2 Điều 53, Điều 55 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo Nguyễn Trọng H phải chấp hành là tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về việc thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 28/8/2023, bị cáo Nguyễn Trọng H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Bị cáo H giữ nguyên đơn kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo vì bị cáo thấy hình phạt án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là nghiêm khắc, vì Viện kiểm sát đề nghị phiên toà sơ thẩm chỉ 20 năm tù.
- - Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cháp nhận kháng cáo yêu cầu giảm án của bị cáo vì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo. Đề nghị: Giữ y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trọng H thừa nhận có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý với số lượng như án sơ phẩm nhận định là đúng nên Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điều 251 và Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt đối của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý: Khi Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ 179,6859 gam Methamphetamine; 4,4735 gam MDMA; 3,4002 gam Ketamine để bán cho người khác, ngoài ra bị cáo còn phải chịu trách nhiệm về số lượng ma tuý bị cáo H nhờ bị cáo T1 bán cho người khác là 0,7771 gam MDMA và 0,4591 gam Ketamine. Theo khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù của tội Mua bán trái phép chất ma tuý có hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, số lượng ma tuý thu giữ của bị cáo là cao, nhiều loại ma tuý khác nhau, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên án sơ thẩm xử phạt bị cáo tù Chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma tuý là không nặng, đã đánh giá toàn diện vụ án, áp dụng đúng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với án sơ thẩm nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm án của bị cáo và lời đề nghị của người bào chữa mà chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên án sơ thẩm.
[2.2]. Đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý: Ngoài các chất ma tuý bị cáo bị bắt nhằm mua bán ở trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ 0,5895 gam Methamphetamine của bị cáo H tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng nên án sơ thẩm xử phạt bị cáo thêm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là có căn cứ. Tuy nhiên, khi nhận định về tội danh và quyết định hình phạt cấp sơ thẩm không phân tích từng tội danh nên việc áp dụng điều luật và hình phạt cho bị cáo chưa được chính xác. Cụ thể, cấp sơ thẩm áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự cho cả hai tội danh và xử phạt bị cáo 05 năm tù là chưa phù hợp. Ở tội danh này, bị cáo chỉ phạm tội ở tình tiết định khung tại điểm c khoản 1 Điều 249 và chỉ phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Do đó, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về áp dụng điều luật và giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không chịu án phí .
[4]. Các phần khác của án sơ thẩm, không có kháng cáo kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Bình Thuận về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tuyên xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H, tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H, 03 (ba) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo Nguyễn Trọng H phải chấp hành là tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2023.
- Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |
Bản án số 968/2023/HS-PT ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 968/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng H Mua bán trái phép chất ma tuý
