|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 967/2023/DS-ST
Ngày: 05/12/2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Luy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Văn Quí
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 449/2022/TLST-DS ngày 01/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 534/2023/QĐXXST-DS ngày 16/10/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 404/2023/QĐST-DS ngày 07/11/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà HM T D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Quang T
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Ngọc H
Địa chỉ liên lạc: E L, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
(Giấy uỷ quyền số 471/2022/UQ-VCCB ngày 06/10/2022).
Ông Nguyễn Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn:
- Ông Bùi Bảo L, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A, Ấp G, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 06/10/2022; các Bản tự khai; các Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và Biên bản về việc không tiến hành hoà giải được, nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (sau đây gọi là Nguyên đơn) có ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP B và ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G (sau đây gọi là Bị đơn) có ký Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/06/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019 với số tiền vay: 150,000,000 đồng; Mục đích vay: Vay bổ sung vốn hoạt động kinh doanh; Thời hạn vay: 24 tháng (kể từ ngày 26/06/2019 đến ngày 26/06/2021); Lãi suất cho vay: 22,2%/năm. Lãi suất của toàn bộ dư nợ vay phát sinh nêu trên sẽ do Ngân hàng B quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần kể từ tháng thứ 13 tính từ ngày giải ngân, với mức lãi suất bằng lãi suất cơ sở của Ngân hàng B tại thời điểm điều chỉnh + Biên độ 14%/năm. Định kỳ điều chỉnh lãi suất không bắt buộc mà phụ thuộc vào quyết định của Ngân hàng B. Phương thức trả nợ: Trả lãi vay: Vào ngày 01 định kỳ 01 tháng/lần. Trả nợ gốc: Vào ngày 01 định kỳ 01 tháng/lần với số tiền 6.250.000 đồng/tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 01/08/2019. Kỳ trả nợ gốc cuối cùng vào ngày đến hạn với số tiền 6.250.000 đồng. Lãi suất lãi chậm lãi: 10% lãi suất vay trong hạn, được tính trên số vốn gốc bị quá hạn và số ngày quá hạn; Lãi suất lãi chậm vốn: 150% lãi suất vay trong hạn, được tính trên số vốn gốc bị quá hạn và số ngày quá hạn. Ngày 26/06/2019, bị đơn đã thực hiện việc rút vốn với tổng số tiền là 150,000,000 đồng.
Trước khi ký kết hợp đồng tín dụng, nguyên đơn có xuống nhà bị đơn để thẩm định tín dụng. Tuy nhiên tại thời điểm ký kết Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/06/2019, bị đơn không cung cấp cho nguyên đơn giấy phép kinh doanh và tài liệu, chứng cứ thể hiện bị đơn hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật nên nguyên đơn không thể kiểm soát được việc bị đơn có sử dụng số tiền đã vay từ nguyên đơn nêu trên vào mục đích tiêu dùng hay kinh doanh cá thể. Trong đợt Covid-19 diễn ra, nguyên đơn có những phương án đồng hành và hỗ trợ khách hàng vay, theo Công văn số 01/2020-BVB/TB-CoV ngày 12/03/2020 (về việc cùng Khách hàng tháo gỡ khó khăn do ảnh hưởng của dịch C) và Công văn số 188/2020/TB-SP&MKT ngày 03/04/2020 (về việc hỗ trợ lãi suất khoản vay hiện hữu KHCN bị ảnh hưởng nguồn thu trực tiếp/gián tiếp từ dịch Covid-19) nhưng bị đơn không thuộc phạm vi áp dụng. Ngày 24/11/2022, nguyên đơn có xuống nhà làm việc trực tiếp với bị đơn và bị đơn có hứa sẻ thanh toán cho nguyên đơn và có làm đơn xin miễn giảm toàn bộ lãi chỉ thanh toán gốc. Tuy nhiên, đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán một phần hay toàn bộ tiền gốc.
Trong quá trình vay vốn, từ ngày 26/06/2019 đến ngày 07/02/2020, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 54.455.384 đồng (trong đó tiền gốc đã thanh toán là 37.500.000 đồng, lãi đã thanh toán là 16.955.384 đồng) chi tiết đính kèm theo sổ phụ tài khoản tiền vay. Tính đến hết ngày 05/12/2023, bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền là: 258.669.437 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán tổng số tiền là 258.669.437 đồng, trong đó nợ gốc là 112.500.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 20.173.333 đồng, tiền lãi do chậm trả lãi là 6.691.832 đồng, tiền lãi do chậm trả vốn là 119.304.272 đồng; buộc các bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019.
Bị đơn – ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tiến hành các thủ tục tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác tại nơi cư trú hợp pháp thể hiện trong các văn bản giao dịch của bị đơn, nhưng trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn đã không đến Tòa tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình đối với ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Tại phiên toà hôm nay:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn – các ông bà Bùi Bảo L, Nguyễn Thị Hồng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa; Việc gửi, cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Thẩm phán đã vi phạm thời hạn giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn mở phiên tòa sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử tuân thủ quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Đối với nguyên đơn: Từ khi nộp đơn khởi kiện đến phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Đối với các bị đơn: Từ khi vụ án được thụ lý đến phiên tòa hôm nay, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông bà Bùi Bảo L, Nguyễn Thị Hồng G. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 09/11/2022 của Công an xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn có nơi thường trú và thực tế đang cư trú tại số A, Ấp G, xã X, huyện H nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019, xác định: “Mục đích vay là bổ sung vốn hoạt động kinh doanh”. Tuy nhiên, tại Công văn số 5155/TCKH ngày 23/8/2023 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện H đối với Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 174/2023/QĐ-CCCC ngày 10/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn đã xác định: “Qua kiểm tra, rà soát trên cơ sở dữ liệu cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, tại địa chỉ số A, Ấp G, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, không có cá nhân (hoặc thành viên hộ gia đình) nào đăng ký kinh doanh Thế Giới Cá tại địa chỉ trên. Chỉ có hộ kinh doanh Đinh Quang T1 được đăng ký với ngành nghề kinh doanh là quán ăn P, do ông Đinh Quang T1 làm chủ hộ. Mặt khác, qua tra cứu trên cổng thông tin doanh nghiệp của Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, tại địa chỉ số A, Ấp G, xã X cũng không ghi nhận thông tin đăng ký doanh nghiệp mang tên Thế Giới Cá”. Như vậy, có cơ sở xác định tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2]. Về tư cách tham gia tố tụng và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:
Nguyên đơn có ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng, việc uỷ quyền của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Ông Nguyễn Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn ông bà Bùi Bảo L, Nguyễn Thị Hồng G, mặc dù Toà án đã thực hiện thủ tục tố tụng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo sự khách quan, toàn diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không lý do. Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, các bị đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về chứng cứ:
[1.3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu liên quan đến yêu cầu khởi kiện gồm: Bản sao y công chứng Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019; Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019; Đơn xin xác nhận đề ngày 04/6/2019; Đơn đề nghị vay vốn; Phiếu đánh giá và phê duyệt tuyến phố; Kết quả xác minh thông tin; Phiếu tính lãi khoản vay; Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của ông L, bà G; Thông báo ngày 12/3/2020 về việc cùng khách hàng tháo gỡ khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid; Thông báo số 188 ngày 03/4/2020 về việc hỗ trợ lãi suất vay hiện hữu KHCN bị ảnh hưởng nguồn thu trực tiếp/gián tiếp từ dịch Covid -19; Bản photo Đơn xin miễn giảm lãi đề ngày 24/11/2022. Đại diện nguyên đơn xác nhận các tài liệu trên đang lưu trữ trong hồ sơ tại trụ sở của nguyên đơn và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của các tài liệu này. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với bị đơn, bị đơn không có ý kiến phản đối gì với toàn bộ tài liệu mà nguyên đơn giao nộp. Do đó, những tài liệu, chứng cứ nêu trên có giá trị chứng minh về quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định tại Điều 92, Điều 93, Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3.2] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Toà án tham gia tố tụng, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ được quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Về luật áp dụng: Quan hệ tín dụng được xác lập vào ngày 24/6/2019 nên Toà án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản liên quan để điều chỉnh.
[2.2] Xét quan hệ tín dụng, nguyên đơn và bị đơn có thoả thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019. Điều khoản cho vay và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019 là một bộ phận không tách rời khỏi Hợp đồng. Căn cứ Điều 405 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đây là loại hợp đồng theo mẫu. Xét chủ thể ký kết, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 (Điều 122, Điều 123, và Điều 124 Bộ luật Dân sự 33/2005/QH11) và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên buộc các bên phải thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn tiền gốc là 112.500.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.3.1] Theo trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cùng với các chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thể hiện: Nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019, theo đó nguyên đơn cho bị đơn vay 150.000.000 đồng, thời hạn 24 tháng kể từ ngày Bên được cấp tín dụng nhận nợ vay, lãi suất 22.2%/năm; mục đích bổ sung vốn phục vụ hoạt động kinh doanh. Ngay sau khi ký Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ nói trên, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền là 150.000.000 đồng. Theo đó, bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc đều vào ngày 01 định kỳ 01 tháng/lần, số tiền gốc phải trả là 6.250.000 đồng/tháng, kỳ trả nợ gốc cuối cùng vào ngày đến hạn trả nợ cuối cùng, số tiền là 6.250.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn nợ gốc đến ngày 07/2/2020 là 37.500.000 đồng; từ ngày 08/2/2020 đến nay, bị đơn không tiếp tục thanh toán theo thoả thuận là vi phạm Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019.
[2.3.2] Tại Đơn xin miễn giảm lãi đề ngày 24/11/2022 do nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung “ . . . Tôi tên là Bùi Bảo L . . . Tôi có khoản vay tính đến ngày 06/9/2022 tiền gốc còn lại là 112.500.000 đồng và lãi 96.870.461 . . . Tôi viết đơn này xin Ban Giám đốc duyệt cho tôi chỉ xin trả gốc và miễn giảm phần lãi suất toàn bộ . . .”. Với chứng cứ trên cho thấy, lời khai của nguyên đơn về việc bị đơn đã trả được 37.500.000 đồng và còn nợ nguyên đơn 112.500.000 tiền gốc là có cơ sở. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn có văn bản trình bày ý kiến và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc đã thanh toán một phần hoặc thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên, bị đơn không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Mặt khác, không có chứng từ nào cho thấy bị đơn đã thanh toán hết số tiền nợ gốc còn lại cho nguyên đơn; cũng như không có tài liệu nào thể hiện bị đơn được cơ cấu lại nợ hoặc giãn nợ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và bản Điều khoản cho vay đính kèm Hợp đồng tín dụng, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc còn lại là 112.500.000 đồng.
[2.4] Về yêu cầu trả tiền lãi trong hạn là 20.173.333 đồng, tiền lãi do chậm trả lãi là 6.691.832 đồng, tiền lãi do chậm trả vốn là 119.304.272 đồng. Tại Điều 1 Điều khoản cho vay đính kèm Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019, quy định: Khi đến hạn trả nợ mà Khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay thì Khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: (i) Tiền lãi trên nợ gốc, (ii) Tiền lãi chậm trả trên số dư lãi chậm trả, và (iii) Tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn. Hội đồng xét xử nhận thấy thỏa thuận trên là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 13 và Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N và Nghị quyết số 01/2019/NQ HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xét từ khi được giải ngân cho đến kỳ thanh toán tháng 2/2020, bị đơn đã thanh toán tiền lãi tổng cộng là 16.955.384 đồng, sau đó không thanh toán nữa là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019. Do đó, căn cứ khoản c Điều 1 Điều khoản cho vay đính kèm Hợp đồng tín dụng và các Quyết định ban hành lãi suất từng thời kỳ, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm phải thanh toán số tiền gồm: (i) 20.173.333 đồng là tiền lãi trong hạn, (ii) 119.304.272 đồng là tiền lãi do chậm trả vốn tính trên dư nợ gốc bị quá hạn theo mức lãi suất bằng 150% của lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và (iii) 6.691.832 đồng là tiền lãi do chậm trả lãi tính trên số dư tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất là 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả là có cơ sở.
[2.5] Từ những lập luận trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc và lãi còn thiếu tại Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019 tổng cộng là 258.669.437 (hai trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi chín ngàn, bốn trăm ba mươi bảy) đồng, trong đó nợ gốc là 112.500.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 20.173.333 đồng, tiền lãi do chậm trả lãi là 6.691.832 đồng, tiền lãi do chậm trả vốn là 119.304.272 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thoả thuận tại hợp đồng kể từ ngày 06/12/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận của hợp đồng tín dụng và quy định của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng nên chấp nhận.
[2.6] Về thời hạn và phương thức thanh toán: Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần toàn bộ số tiền còn nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự và thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.7] Xét thấy, bị đơn đứng tên là bên vay trong Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019 là ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 217/2014 ngày 19/11/2014 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử xác định trách nhiệm trả toàn bộ tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019 là của ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 405, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
Buộc ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G chịu trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019 tổng cộng là 258.669.437 (hai trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi chín ngàn, bốn trăm ba mươi bảy) đồng, trong đó nợ gốc là 112.500.000 đồng (một trăm mười hai triệu, năm trăm ngàn) đồng, tiền lãi trong hạn là 20.173.333 (hai mươi triệu, một trăm bảy mươi ba ngàn, ba trăm ba mươi ba) đồng, tiền lãi do chậm trả lãi là 6.691.832 (sáu triệu, sáu trăm chín mươi mốt ngàn, tám trăm ba mươi hai) đồng, tiền lãi do chậm trả vốn là 119.304.272 (một trăm mười chín triệu, ba trăm lẻ bốn ngàn, hai trăm bảy mươi hai) đồng.
Thanh toán một lần toàn bộ số tiền nêu trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0091900113100 ngày 24/6/2019 và Giấy nhận nợ số 0091900113100001 ngày 26/6/2019, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Bùi Bảo L, bà Nguyễn Thị Hồng G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.933.472 (Mười hai triệu, chín trăm ba mươi ba ngàn, bốn trăm bảy mươi hai) đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.234.267 (Năm triệu, hai trăm ba mươi bốn ngàn, hai trăm sáu mươi bảy) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0015193 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Luy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Thị L1
Bản án số 967/2023/DS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 967/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu Nguyên đơn
