Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 967/223/HS-PT

Ngày: 18 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Phan Đức Phương

Ông Chung Văn Kết

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 624/2023/TLPT - HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Hồ Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo: Hồ Văn T, sinh năm 1990 tại Lâm Đồng. Tên gọi khác: B. Nơi đăng ký thường trú: Số A P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha là Hồ Lạc P, sinh năm 1963 và mẹ là Đặng Thị C, sinh năm 1962; vợ con: chưa có; tiền sự, tiền án: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/8/2022 đến nay. (Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Bà Phạm Thị Minh H, Luật sư Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
  2. Ông Trần Văn Đ, Luật sư Công ty L3, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

- Bị hại: Ông Đào Văn L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A đường Đ, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 9 năm 2021, thông qua mạng xã hội Facebook và Z, bị cáo Hồ Văn T kết bạn làm quen với bà Trần Thị Bích L1, sinh năm 1987 là nhân viên Công ty B1 có trụ sở tại xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình quen biết, T được giới thiệu làm quen với ông Đào Văn L, sinh năm 1988 là Giám đốc Công ty B1 kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Đào Văn L. Hồ Văn T nói với ông Đào Văn L về ý định tìm mua đất đầu tư bất động sản tại tỉnh Bình Thuận.

Ngày 26/9/2021, T cùng ông Đào Văn L, bà Trần Thị Bích L1, ông Đào Văn T1 tổ chức họp nhóm trực tuyến, trong cuộc họp này T đưa thông tin giới thiệu mình có số tiền hơn một nghìn tỷ đồng được nhận thừa kế từ mẹ nuôi đang sinh sống tại Hoa Kỳ gửi về Việt Nam cho T để đầu tư bất động sản, số tiền này sẽ được giải ngân tại ngân hàng ở Việt Nam. Ông Đào Văn L giới thiệu nhiều mảnh đất trên địa bàn huyện H, tỉnh Bình Thuận, T chọn được 04 thửa có tổng giá trị trên 35.000.000.000 đồng (ba mươi lăm tỷ đồng). Sau khi kết thúc buổi họp, ông Đào Văn L gửi thông tin các thửa đất trên cho T xem, đến ngày 29/9/2021 T làm các hợp đồng ủy quyền cho ông Đào Văn 1 thay mặt Toàn hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng 3/4 thửa đất mà T đã chọn mua, với tổng giá trị là 35.275.000.000 đồng (ba mươi lăm tỷ hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Để được tin tưởng, T làm giả một số giấy tờ của Ngân hàng N1, của Bộ N2 xác nhận mình có số tiền hơn nghìn tỷ đồng, cụ thể: T tìm kiếm logo Bộ Nội vụ trên internet, tìm chữ ký của Bộ trưởng Bộ N2 là ông Lê Vĩnh T2, con dấu của Bộ N2, Đại sứ quán H2 và Ngân hàng N1, sau đó thao tác trên ứng dụng Microsoft Word đánh máy nội dung và cắt ghép, chỉnh sửa thông tin để tạo thành văn bản thể hiện Hồ Văn T được thừa hưởng nguồn ngoại hối từ Hoa Kỳ và đang được Bộ N2, Ngân hàng N1 thẩm định hồ sơ, chuyển trả nguồn ngoại hối có trị giá 36.000.000 USD (ba mươi sáu triệu đô la Mỹ). Hoàn tất việc chỉnh sửa, Hồ Văn T xuất file dưới dạng PDF gửi qua ứng dụng Zalo cho ông Đào Văn L để tạo lòng tin, thể hiện ý định muốn đầu tư bất động sản.

Chiều ngày 29/9/2021, Hồ Văn T gọi điện thoại cho ông Đào Văn L nói rằng mình đang cần số tiền mặt 200.000.000 đồng để “bôi trơn” cho ba ngân hàng tại Việt Nam để giải ngân sớm nguồn tiền kiều hối của T. Vì tin tưởng, nên ông Đào Văn L yêu cầu bà Trần Thị Bích L1 (nhân viên kế toán công ty do ông Đào Văn L làm chủ) chuyển khoản số tiền này vào số tài khoản 1610000089858 của T mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 (B2). Sau đó, Hồ Văn T lấy lý do cần nộp phí giải ngân tại ngân hàng nên yêu cầu ông Đào Văn L tiếp tục chuyển các lần tiền vào tài khoản ngân hàng trên, cụ thể: Ngày 30/9/2021, chuyển 620.000.000 đồng; ngày 01/10/2021, chuyển 900.000.000 đồng (các lần chuyển tiền này do bà Trần Thị Bích L1 thực hiện theo yêu cầu của ông Đào Văn L); đến ngày 08/10/2021, ông Đào Văn L trực tiếp chuyển 2.000.000.000 đồng cho T. Tổng cộng, ông Đào Văn L chuyển tiền 01 lần và bà Trần Thị Bích L1 chuyển tiền 03 lần, với tổng số tiền 3.720.000.000 đồng vào số tài khoản 1610000089858 của T mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 (B2).

Sau khi thực hiện việc chiếm đoạt số tiền trên, Hồ Văn T không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất như thỏa thuận, cũng không trả lại tiền cho ông Đào Văn L dù ông đã nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu T trả số tiền đã mượn.

Đến ngày 15/10/2021, thông qua tin nhắn Zalo, T tiếp tục gửi cho ông L 02 hình ảnh có chứa đựng nội dung thông báo của Bộ N2 về nguồn tiền kiều hối của T đã được giải ngân vào các hệ thống ngân hàng thông qua các tài khoản sau:

  • Tài khoản số 0531002481862 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (V) có số dư 160.042.187.902 đồng;
  • Tài khoản số 604704060106449 tại Ngân hàng Q (V1) có số dư 108.000.289.005 đồng;
  • Tài khoản số [...] tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A) có số dư 107.560.201.030 đồng;
  • Tài khoản số 19030938305010 tại Ngân hàng thương mại cổ phần K (T4) có số dư 9.500.000.000 đồng;
  • Tài khoản số [...] tại Ngân hàng C1 có số dư 15.000.000.000 đồng.

Ngày 08/11/2021, ông Đào Văn L vào Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Hồ Văn T cùng đến Ngân hàng thương mại cổ phần K (T4) – Chi nhánh T5 để kiểm tra tính xác thực thông tin số dư tài khoản mà T gửi cho ông L. Đến ngày 18/11/2021, T vẫn không chịu trả tiền cho ông L, cũng không hề liên lạc để thực hiện các hợp đồng mua bán đất. Nghi ngờ những hình ảnh, thông tin mà T gửi là giả nên ông Đào Văn L tố cáo Hồ Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

Qua kết quả xác minh tại Bộ N2, Sở Nội vụ tỉnh B, tại các ngân hàng thì Hồ Văn T không có nguồn kiều hối có giá trị 36.000.000 USD như đã nói với ông Đào Văn L. Quá trình điều tra, Hồ Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.720.000.000 đồng; ngày 14/5/2022, Hồ Văn T đã trả lại toàn bộ số tiền này cho ông Đào Văn L, sau đó bỏ trốn đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 16/8/2022 thì bị bắt theo quyết định truy nã. Ông Đào Văn L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt có đơn rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với Hồ Văn T và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Đào Văn L, trong năm 2018 cũng với phương thức, thủ đoạn trên Hồ Văn T đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản gia đình ông Nguyễn Ngọc T3, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Thành N (con ruột của ông T3, bà H1), cùng cư ngụ tại: số I đường T, khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:

  1. Căn cứ vào: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn T 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 16/8/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 18/7/2023, bị cáo Hồ Văn T có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án và giảm án cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Bị cáo T và người bào chữa, yêu cầu Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm vì bị cáo chỉ phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đạt tài sản và giảm án cho bị cáo
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo. Đề nghị: Giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa hôm nay, cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo xác định: Thông qua bạn bè thì quen biết với bị hại Đào Văn L là Giám đốc Công ty B1 làm kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, bị cáo nói với bị hại là có nhu cầu về bất động sản tại Bình Thuận với nguồn vốn đầu tư khoảng 350.000.000.000 đồng. Bị hại gửi thông tin các thửa đất trên cho bị cáo xem, đến ngày 29/9/2021 bị cáo làm các hợp đồng ủy quyền cho bị hại thay mặt bị cáo hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng 3/4 thửa đất mà bị cáo đã chọn mua, với tổng giá trị là 35.275.000.000 đồng (ba mươi lăm tỷ hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Sau khi ký kết các hợp đồng ủy quyền bị cáo nói với bị hại đang khó khăn về tài chính trong việc thanh toán các khoản thuế nên bị cáo hỏi mượn tiền của bị hại và đã chiếm đoạt của bị hại 3.720.000.000 đồng là có xảy ra trên thực tế.

[2]. Bị cáo cho rằng, qua trao đổi với bị hại và bị hại tự nguyện chuyển tiền cho bị cáo mượn từ ngày 29/9/2021 đến ngày 08/10/2021, với tổng số tiền là 3.720.000.000 đồng và khi không có khả năng thanh toán thì đến ngày 15/10/2021, bị cáo mới đưa ra các thông tin gian dối rằng bị cáo nhận thừa kế nguồn kiều hối có giá trị 36.000.000 USD từ mẹ nuôi tại Hoa Kỳ gửi về Việt Nam chỉ nhằm mục đích để xin bị hại gia hạn thời gian trả nợ nên bị cáo chỉ phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không phải phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như án sơ thẩm đã xét xử.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ bản tự khai ngày 15/9/2022 (bút lục 271 – 272) của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo lợi dụng việc quen biết với bị hại là Giám đốc Công ty B1 kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản nên bị cáo nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối như có khả năng và nguồn tiền rất lớn để đầu tư bất động sản, bị cáo tổ chức các cuộc họp thông qua mạng xã hội, bị cáo đã chọn mua nhiều diện tích đất tại tỉnh Bình Thuận với giá trị cao và làm hợp đồng uỷ quyền cho bị hại thay mặt bị cáo ký kết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khi bị

cáo không có khả năng về tài chính để thực hiện việc chuyển nhượng này. Chính hành vi gian dối đưa ra thông tin không đúng sự thật để cho bị hại tin tưởng mà tự nguyện chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bị cáo từ ngày 29/9/2021 đến ngày 08/10/2021 gồm 04 lần với tổng số tiền là 3.720.000.000 đồng và bị cáo đã sử dụng tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật nên không có căn cứ sửa tội danh như bị cáo và người bào chữa trình bày.

Sau khi nhận tiền của bị hại, đến ngày 15/10/2021, thông qua tin nhắn Zalo, bị cáo tiếp tục gửi bị hại 02 hình ảnh có chứa đựng nội dung thông báo của Bộ N2 về nguồn tiền kiều hối của bị cáo đã được giải ngân nhằm mục đích để bị hại tin tưởng, không hối thúc việc bị cáo phải trả tiền và thanh toán các khoản chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như việc trình báo việc bị cáo chiếm đoạt tiền với chính quyền địa phương.

[3]. Xét kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo chiếm đoạt tài sản với số tiền 3.720.000.000 đồng của bị hại nên cần xử lý nghiêm. Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và được bị hại làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; có cha tham gia quân đội và được tặng thưởng giấy khen do hoàn thành tốt nhiệm vụ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và án sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên toà hôm nay, bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mưới nên không có căn cứ giảm án cho bị cáo mà chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên án sơ thẩm.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận.

[5]. Các phần khác của án sơ thẩm, không có kháng cáo kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6]. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về việc viết phần quyết định của bản án không đúng theo mẫu hướng dẫn và khi áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự phải nêu cụ thể khoản nào.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 13/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Bình Thuận.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2022.
  4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • – Tòa án nhân dân tối cao;
  • – Vụ I - TANDTC;
  • – VKSNDCC tại Tp.HCM;
  • – TAND tỉnh Bình Thuận;
  • – VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • – Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • – Công an tỉnh Bình Thuận;
  • – Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • – Bị cáo tại ngoại;
  • – Đương sự;
  • – Lưu: hồ sơ, Vp, 23bBDQK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 967/223/HS-PT ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm hình sự)

  • Số bản án: 967/223/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger