Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 966/2024/DS-PT

Ngày 13 – 11 – 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh

Ông Dương Anh Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án vụ án dân sự thụ lý số 589/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3110/2024/QĐ-PT ngày 28/10/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (có mặt);

    Địa chỉ: Ấp M, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Huy C là Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1960 (có mặt);

    Địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Tranh Đ là Luật sư của Công ty L4 - Chi nhánh D1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
    2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng N – Chủ tịch (có đơn xin vắng mặt).

    3. Ngân hàng N2;
    4. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội (có đơn xin vắng mặt).

    5. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1968 (có mặt);
    6. Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt);
    7. Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt);
    8. Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 2008 (có đơn xin vắng mặt);
    9. Chị Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt);
    10. Cùng địa chỉ: ấp M, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    11. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962 (có mặt);
    12. Địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    13. Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt);
    14. Chị Nguyễn Thị Hoài N1, sinh năm 1995 (có đơn xin vắng mặt);
    15. Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà VinhVinh.

      Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Hoàng P, chị Nguyễn Thị Hoài N1: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962 (có mặt).

    16. Chị Nguyễn Thị Hồng P1, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt);
    17. Địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn.

Phiên tòa phúc thẩm trực tuyến được tiến hành ở hai điểm cầu. Điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát; Điểm cầu thành phần là Phòng xử án tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh gồm có: Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị L1, Luật sư Lê Tranh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung, các lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn C1 có thửa đất 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, nguồn gốc là do vợ chồng bà H nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn T3 vào năm 2002. Do phần đất này trước đây là của ông Lê Văn G chuyển nhượng cho ông T3, do ông G đứng tên kê khai, đăng ký nên khi ông T3 chuyển nhượng lại thửa đất này cho vợ chồng bà H thì làm giấy tay từ ông G sang cho gia đình bà H. Khi vợ chồng bà H nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì giữa thửa đất trên với phần đất của gia đình ông Nguyễn Văn L có một cái bờ nhỏ làm ranh. Vào khoảng năm 2004 -2005 thì vợ chồng bà H có cho gia đình ông L mượn sử dụng phần đất tiếp giáp với đất của gia đình ông L (phần đất hiện nay tranh chấp) để ông L làm đường thoát nước thải nuôi tôm ra sông. Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn L trả lại cho gia đình bà H diện tích đất thực đo 1.923m² (Phần ký hiệu A2) nằm trong tổng diện tích 35.446m², thửa 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; đối với phần diện tích 286,9m² (phần ký hiệu D) nằm trong thửa đất 111, bà H đồng ý giao cho gia đình ông Nguyễn Văn L tiếp tục quản lý, sử dụng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:

Gia đình ông có thửa đất 01, diện tích 56.540m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc là của vợ chồng ông khai phá vào năm 1983. Phần thửa đất 111, diện tích 35.446m² của gia đình bà H là cũng do ông khai phá, sau đó đến khoảng năm 1986 ông cho anh ruột ông là ông Nguyễn Văn L2 (đã chết), sau đó ông L2 chuyển nhượng lại cho gia đình ông Lê Văn G, gia đình ông G chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T3, ông T3 chuyển nhượng lại cho gia đình bà H, ông C1. Từ thời điểm ông cho phần đất này cho ông L2 (thửa 111) thì giữa phần đất ông cho ông L2 với phần đất của ông sử dụng (thửa 01) có một cái bờ làm ranh khoảng 2,5m. Đến khi gia đình bà H sử dụng phần đất này (thửa 111) thì giữa gia đình ông với gia đình bà H hai bên cùng đắp đất vào cái bờ cũ này thành cái bờ như hiện nay (rộng khoảng 06m). Phần đất tranh chấp hiện nay là do gia đình ông sử dụng từ năm 1983 cho đến nay, việc bà H cho rằng phần đất tranh là đất của bà H cho gia đình ông mượn làm đường thoát nước thải nuôi tôm ra sông là không có. Nay ông có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích diện tích đất thực đo 2.209,9m² (Phần ký hiệu A2, D) nằm trong tổng diện tích 35.446m², thửa 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho gia đình ông và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất thửa đất 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1, cũng là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng P, chị Nguyễn Thị Hoài N1 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Văn L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 trình bày:

Hộ ông Nguyễn Văn C1 có vay của Ngân hàng số tiền 1.000.000.000 đồng và có thế chấp thửa đất 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nay thửa đất 111 này đã được Ngân hàng giải chấp, Ngân hàng xin giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị Nguyễn Thị Hồng D, chị Nguyễn Thị Hồng T, chị Nguyễn Thị Hồng T1, chị Nguyễn Thị Hồng T2, Nguyễn Thị Hồng P1: Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024

của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 38, 39, 147, 165, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 3, khoản 20 Điều 4, Điều 10, Điều 48, khoản 3 Điều 49, 50, Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 9, khoản 30 Điều 3, Điều 5, Điều 17, Điều 26, Điều 99, Điều 100, Điều 101, Điều 166, Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn L trả lại diện tích đất thực đo 1.923m² (Phần ký hiệu A2) thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của của bị đơn ông Nguyễn Văn L.
  3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C1 vào ngày 18/4/2003, Giấy chứng nhận số W 626710.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn C1 giao cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, sử dụng phần diện tích đất 286,9m² (phần ký hiệu D), loại đất lúa, thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Công nhận phần diện tích đất 286,9m² (phần ký hiệu D), loại đất lúa, thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, sử dụng. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

    • Hướng Đông là điểm tiếp giáp giữa thửa đất số 1 với thửa đất số 111.
    • Hướng Tây là điểm tiếp giáp giữa thửa đất số 1 với thửa đất số 111.
    • Hướng Nam giáp thửa số 1 có 03 đoạn: Đoạn dài 20,95m; đoạn dài 48,3m; đoạn dài 15,21m.
    • Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa số 111 (giáp phần ký hiệu A2) có 05 đoạn: Đoạn dài 7,07m; đoạn dài 16,26m; đoạn dài 10,67m; đoạn dài 13,9m; đoạn dài 29,55m.

    (Có Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn 46/VPĐKĐĐ-KTĐC)

    Công nhận phần diện tích đất 1.923m² (Phần ký hiệu A2), loại đất lúa, thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, sử dụng. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

    • Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa số 111, có chiều dài 3,72m.
    • Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa số 111, có chiều dài 1,53m.
    • Hướng Nam giáp thửa số 1 (phần ký hiệu A1, A3) và giáp phần còn lại thửa 111 (phần ký hiệu D) có 07 đoạn: Đoạn dài 49,05m; đoạn dài 7,07m; đoạn dài 16,26m; đoạn dài 10,67m; đoạn dài 13,9m; đoạn dài 29,55m; đoạn dài 60,16m.
    • Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa số 111 (giáp phần ký hiệu B) có 08 đoạn: Đoạn dài 42,5m; đoạn dài 25,7m; đoạn dài 13,83m; đoạn dài 10,83m; đoạn dài 62,22m; đoạn dài 18,7m; đoạn dài 3,7m; đoạn dài 4,0m.

    (Có Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn 46/VPĐKĐĐ-KTĐC)

    Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 2.209,9m² (Phần ký hiệu A2, D) trên theo quyết định của Bản án này.

    Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại quyền sử dụng đất đối với thửa 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị H sau khi trừ diện tích 2.209,9m² (Phần ký hiệu A2, D) công nhận cho ông L, bà L1 theo quy định của pháp luật.

    Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 20/5/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo sửa quyết định án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L không đồng kháng cáo của nguyên đơn, và đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày án sơ thẩm xét xử là đúng quy định, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, cũng phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, kiểm sát viên cho rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn L trả lại phần đất có diện tích 1.923m² nằm trong thửa 111, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp:

Thửa đất số 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc là ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị H nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T4 (ông T4 nhận chuyển nhượng từ ông G) vào năm 2002, lúc chuyển nhượng thì ông T4 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng vào ngày 05/7/2003 ông C1 làm thủ tục kê khai, đăng ký diện tích 35.446m², thửa 111, đến ngày 18/4/2003 được Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thị xã D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C1.

Thửa đất số 1, diện tích 56.540m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, có nguồn gốc là do gia đình ông Nguyễn Văn L khai phá vào năm 1983. Ngày 23/3/2003 ông L có kê khai, đăng ký diện tích 56.540m², thuộc thửa 1, đến ngày 13/6/2003 được Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thị xã D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn L.

Tại Công văn số 46/VPĐKĐĐ – KTĐC ngày 17/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T và Sơ đồ khu đất kèm theo về việc cung cấp kết quả khảo sát, thẩm định thể hiện phần đất đang tranh chấp có diện tích 1.923m² (Phần ký hiệu A2) nằm trong thửa đất số 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Nguyễn Văn C1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.2] Về quá trình sử dụng:

Theo khảo sát thể hiện thực trạng sử dụng hiện nay, giữa phần đất của gia đình bà Nguyễn Thị H sử dụng giáp với phần đất mà gia đình ông Nguyễn Văn L sử dụng được tách bạch riêng biệt với nhau bởi cái bờ ranh (cái bờ ranh rộng khoảng 06m). Riêng phần đất tranh chấp diện tích 1.923m² (Phần ký hiệu A2) hiện do gia đình ông L đang quản lý, sử dụng, hiện trạng là thuộc một phần hồ nước nuôi tôm của gia đình ông L và thuộc một phần của cái bờ ranh (khoảng 1/3 chiều ngang cái bờ).

Theo bà H cho rằng phần đất tranh chấp diện tích 1.923m² (Phần ký hiệu A2) vào năm 2005 gia đình bà H cho gia đình ông L mượn làm mương thoát nước nhưng bà H không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh là phần đất tranh chấp này là gia đình bà cho gia đình ông L mượn sử dụng. Trong khi đó, ông L cho rằng phần diện tích đất tranh chấp trên là do gia đình ông L khai phá vào năm 1983 và sử dụng cho đến nay, việc này được ông L chứng minh là trên thực tế hiện nay phần đất tranh chấp này là do gia đình ông L đang quản lý, sử dụng.

[2.3] Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Tại Công văn số 350/UBND-NC ngày 20/02/2023 của Ủy ban nhân dân thị xã D xác định “Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C1 đối với thửa đất 111, cho hộ ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất số 1 không có biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất nên về trình tự, thủ tục cấp quyền sử dụng đất không đúng theo quy định tại điểm 2.c Chương 3 và điểm 3a Chương 2 của Thông tư số: 1990/2001/TT – TCĐC ngày 30/11/2001".

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị H cũng khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 111 cho gia đình ông, bà thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không có tiến hành đo đạc.

[2.4] Từ những căn cứ trên thấy rằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do UBND huyện D cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C1 vào ngày 18/4/2003 là không đúng đối tượng sử dụng đất, vi phạm về trình tự thủ tục cấp giấy theo quy định tại khoản 3, khoản 20 Điều 4, Điều 10, Điều 48, khoản 3 Điều 49, Điều 50, Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003; Khoản 9, khoản 30 Điều 3, Điều 5, Điều 17, Điều 26, Điều 99, Điều 100, Điều 101, Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H; mà chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn L là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Từ những cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

[4] Các phần khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Căn cứ các Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 3, khoản 20 Điều 4, Điều 10, Điều 48, khoản 3 Điều 49, Điều 50, Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 9, khoản 30 Điều 3, Điều 5, Điều 17, Điều 26, Điều 99, Điều 100, Điều 101, Điều 166, Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn L trả lại diện tích đất thực đo 1.923m² (Phần ký hiệu A2) thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của của bị đơn ông Nguyễn Văn L.
  3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 111, diện tích 35.446m², tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C1 vào ngày 18/4/2003, Giấy chứng nhận số W 626710.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn C1 giao cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, sử dụng phần diện tích đất 286,9m² (phần ký hiệu D), loại đất lúa, thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Công nhận phần diện tích đất 286,9m² (phần ký hiệu D), loại đất lúa, thuộc thửa đất 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, sử dụng. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

    • Hướng Đông là điểm tiếp giáp giữa thửa đất số 1 với thửa đất số 111.
    • Hướng Tây là điểm tiếp giáp giữa thửa đất số 1 với thửa đất số 111.
    • Hướng Nam giáp thửa số 1 có 03 đoạn: Đoạn dài 20,95m; đoạn dài 48,3m; đoạn dài 15,21m.
    • Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa số 111 (giáp phần ký hiệu A2) có 05 đoạn: Đoạn dài 7,07m; đoạn dài 16,26m; đoạn dài 10,67m; đoạn dài 13,9m; đoạn dài 29,55m.

    (Có Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn 46/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 17/01/2024 kèm theo bản án sơ thẩm)

    Công nhận phần diện tích đất 1.923m² (Phần ký hiệu A2), loại đất lúa, thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 quản lý, sử dụng. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

    • Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa số 111, có chiều dài 3,72m.
    • Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa số 111, có chiều dài 1,53m.
    • Hướng Nam giáp thửa số 1 (phần ký hiệu A1, A3) và giáp phần còn lại thửa 111 (phần ký hiệu D) có 07 đoạn: Đoạn dài 49,05m; đoạn dài 7,07m; đoạn dài 16,26m; đoạn dài 10,67m; đoạn dài 13,9m; đoạn dài 29,55m; đoạn dài 60,16m.
    • Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa số 111 (giáp phần ký hiệu B) có 08 đoạn: Đoạn dài 42,5m; đoạn dài 25,7m; đoạn dài 13,83m; đoạn dài 10,83m; đoạn dài 62,22m; đoạn dài 18,7m; đoạn dài 3,7m; đoạn dài 4,0m.

    (Có Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn 46/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 17/01/2024 kèm theo bản án sơ thẩm)

    Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L1 được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 2.209,9m² (Phần ký hiệu A2, D) trên theo quyết định của Bản án này.

    Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại quyền sử dụng đất đối với thửa 111, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị H sau khi trừ diện tích 2.209,9m² (Phần ký hiệu A2, D) công nhận cho ông L, bà L1 theo quy định của pháp luật.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003983 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh. Như vậy, bà H đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  7. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lục pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 966/2024/DS-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 966/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger