Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 964/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25-8-2023

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Như

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
  2. Ông Dương Văn Quí

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 497/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 233/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương N năm 1976 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ thường trú: Thôn Xuân Nẻo, xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

  3. Bị đơn: Ông Trương Thành D năm 1974 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ thường trú: thôn P, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An.

    Địa chỉ cư trú: Nhà không số, Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Nguyễn Phương N1 trình bày:

Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 05/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó giữa vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Ông Trương Thành D1 không quan tâm chăm sóc gia đình, tính tình nóng nảy, không tôn trọng, thường xuyên chửi mắng, xúc phạm bà Nguyễn Phương N1. Từ năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt do hay tranh cãi, xúc phạm nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó tới nay. Vì các con, bà Nguyễn Phương N1 đã nhẫn nhịn, cố gắng hàn gắn gia đình nhiều lần, nói chuyện và khuyên giải ông Trương Thành D1 nhưng không có kết quả. Trong thời gian ly thân, không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà Nguyễn Phương N1 nhận thấy không còn tình cảm yêu thương ông Trương Thành D1 và mỗi người đều có cuộc sống riêng nên bà Nguyễn Phương N1 yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Trương Thành D1.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Diệu L, sinh ngày 10/10/1998 – đã trưởng thành và Trương Gia H, sinh ngày 02/9/2005. Bà N1 yêu cầu nuôi dưỡng con chung Trương Gia H, không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng. Hiện tại trẻ Trương Gia H đang ở cùng với bà N1, để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con sau ly hôn, nên bà N1 muốn được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ H. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Trương Thành D1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình tiến hành tố tụng, tại biên bản lấy lời khai đã trình bày ý kiến:

Ông Trương Thành D1 và bà Nguyễn Phương N1 tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 05/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Trong thời gian kết hôn, vợ chồng ông D1, bà N1 chung sống hạnh phúc. Từ đầu năm 2023, giữa vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhưng là mâu thuẫn nhỏ, không đáng kể. Hai vợ chồng vẫn sống chung nhà. Nay bà N1 muốn ly hôn thì ông D1 không đồng ý. Ông D1 yêu cầu Toà án hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, ông không muốn gia đình tan vỡ.

Về con chung: có 02 con chung tên Trương Thị Diệu L (sinh ngày 10/10/1998, đã trưởng thành) và Trương Gia H (sinh ngày 02/9/2005). Ông D1 đồng ý giao con chung Gia Huy cho bà N1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông D1 không cấp dưỡng nếu Toà án giải quyết ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải và thời hạn gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng và đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phương N1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Toà án đã triệu tập, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn ông Trương Thành D1 đều vắng mặt không lý do. Nguyên đơn bà Nguyễn Phương N1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương (Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 05/01/1998) nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Phương N1: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Thành D1 chỉ đến Tòa án cung cấp lời khai, không giao nộp tài liệu chứng cứ, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết. Theo như lời khai của bà Nguyễn Phương N1 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt từ năm 2021 do bất đồng về quan điểm sống, về cách nuôi dạy con cái. Trước đó, hai vợ chồng đã thường xuyên gây gỗ, xúc phạm nhau. Ông D1 không quan tâm chăm sóc gia đình, tính tình nóng nảy, không tôn trọng bà, thường xuyên chửi mắng, xúc phạm bà N1. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 tới nay. Vì các con, bà Nguyễn Phương N1 đã nhẫn nhịn, cố gắng hàn gắn gia đình nhiều lần, nói chuyện và khuyên giải ông Trương Thành D1 nhưng không có kết quả. Trong thời gian ly thân, không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Về phía ông D1 đã trình bày giữa vợ chồng có phát sinh một số mâu thuẫn, nhưng là những mâu thuẫn nhỏ nên ông D1 không đồng ý ly hôn với bà N1

[5] Căn cứ lời khai của các đương sự thì đủ cơ sở xác định trong thời gian chung sống giữa vợ chồng bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 có phát sinh mâu thuẫn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần hòa giải nhưng ông D1 không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa, không đưa ra được giải pháp để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn với nhau. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải để vợ chồng trở về sống chung đoàn tụ. Điều này cũng thể hiện ông Trương Thành D1 không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình với bà Nguyễn Phương N1. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ và thực hiện các công việc của gia đình... Hiện nay, bà Nguyễn Phương N1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn đã trầm trọng và không thể tiếp tục sống chung với ông Trương Thành D1, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 đang ở trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận cho bà Nguyễn Phương N1 được ly hôn với ông Trương Thành D1.

[6] Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Diệu L (sinh ngày 10/10/1998) và Trương Gia H (sinh ngày 02/9/2005). Trương Thị Diệu L đã trưởng thành, đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ Trương Gia H: Hội đồng xét xử nhận định bà Nguyễn Phương N1 có công việc ổn định, đủ điều kiện để nuôi con, hiện bà N1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đưa đón con đi học hàng ngày, trẻ đã ổn định về điều kiện sống, phát triển về thể chất, tinh thần đồng thời trẻ Trương Gia H có nguyện vọng được ở với bà N1 cũng như tại biên bản lấy lời khai, ông D1 cũng đồng ý giao trẻ H cho bà N1 được trực tiếp nuôi dưỡng, ông D1 không cấp dưỡng nếu Toà án giải quyết ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng nên tiếp tục giao con cho bà Nguyễn Phương N1 nuôi dưỡng để đảm bảo cuộc sống của trẻ được ổn định cũng như phù hợp với với nguyện vọng của trẻ và ý kiến của ông D1, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên yêu cầu của bà Nguyễn Phương N1 được chấp nhận.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Phương N1 không yêu cầu ông Trương Thành D1 cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử quyết định tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Trương Thành D1 cho đến khi có yêu cầu.

[8] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về nợ chung: Bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng, bà Nguyễn Phương N1 chịu, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Phương N1 được ly hôn với ông Trương Thành D1.
  2. Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Diệu L, sinh ngày 10/10/1998 – đã trưởng thành và Trương Gia H, sinh ngày 02/9/2005. Giao con chung là Trương Gia H cho bà Nguyễn Phương N1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Trương Thành D1 cho đến khi có yêu cầu.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về nợ chung: Bà Nguyễn Phương N1 và ông Trương Thành D1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Phương N1 phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng mà bà Nguyễn Phương N1 đã nộp theo biên lai số AA/2022/0016371 ngày 23/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Phương N1 đã nộp đủ án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - UBND xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ,
  • tỉnh Hải Dương (GCN kết hôn
  • số 01 ngày 05/01/1998)
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Phạm Thị Quỳnh Như

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 964/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 964/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger