Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 964/2024/DS-PT

Ngày: 27-11-2024

V/v: “Tranh chấp tài sản chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Uông Văn Tuấn

Các Thẩm phán: Bà Đặng Huyền Phương

Bà Phạm Thị Kim

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 751/DS-PT ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp tài sản chung”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 527/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5506/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 16189/2024/QĐ-PT ngày 12/11/2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1967;

Địa chỉ: 2 P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: B Đường số C Cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền ngày 26/02/2020)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Mai Ngọc H – Văn phòng Luật sư Mai Ngọc H – Đoàn Luật sư Thành phố H.

Bị đơn: Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1962;

Địa chỉ: 2 P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1949;

    Địa chỉ: 2 Đường số A, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1977;

    Địa chỉ: 2 Đường số A, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1954;

    Địa chỉ: B P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ liên lạc: A L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Đỗ Thị P1, sinh năm 1956;

    Địa chỉ: 1 Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Ông Đỗ Văn H2, sinh năm 1959;

    Địa chỉ: A B, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bà Trần Thị M, sinh năm 1960;

    Địa chỉ: 6 K, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Bà Đỗ Tần N, sinh năm 1986;

    Địa chỉ: 6 K, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị M, sinh năm 1960;

    Địa chỉ: 6 K, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Giấy ủy quyền ngày 25/03/2021)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị V do ông Nguyễn Vũ P là người đại diện hợp pháp trình bày:

Cha của bà Đỗ Thị V là ông Đỗ Văn M1 (sinh năm 1920, chết ngày 11/05/1978) và mẹ là bà Nguyễn Thị H3 (sinh năm 1924, chết ngày 25/01/2009) có 07 (bảy) người con là: Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Đỗ Văn T3 (đã chết ngày 17/10/1998, có vợ là bà Trần Thị M, có con là Đỗ Tần N).

Khi còn sống, ông Đỗ Văn M1 và bà Nguyễn Thị H3 có tạo lập được căn nhà và quyền sử dụng đất diện tích 274m² thuộc thửa đất số Khu I:3 và Khu II:22, tờ bản đồ số 02, địa chỉ số B đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (hồ sơ gốc số: 5389/97) do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 02/08/1997, cập nhật ngày 10/3/2000 nhà ở và diện tích đất ở 227m².

Ngày 11/05/1978 ông Đỗ Văn M1 chết không để lại di chúc. Ngày 25/01/2009 bà Nguyễn Thị H3 chết, trước khi chết bà có lập Tờ di chúc ngày 03/06/2003 được Ủy ban nhân dân Phường E, quận T chứng nhận cùng ngày, có nội dung nhường quyền sở hữu của bà là 50% tổng diện tích căn nhà số B đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cho một người con của bà là Đỗ Thị H1.

Ngày 24/05/2014, các đồng thừa kế của ông Đỗ Văn M1 và bà Nguyễn Thị H3 đã lập văn bản khai nhận di sản thừa kế toàn bộ quyền sở hữu của ông Đỗ Văn M1 và bà Nguyễn Thị H3 đối với căn nhà và quyền sử dụng đất nêu trên.

Ngày 06/11/2017, Ủy ban nhân dân quận T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 889618, số vào sổ cấp GCN CH01580 đối với căn nhà và quyền sử dụng đất diện tích: 230,7 m², thừa đất số 45, tờ bản đồ số 27 (BĐĐC-2005), địa chỉ 2 đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Đỗ Thị H1 là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm các ông bà Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Trần Thị M, Đỗ Tần N.

Do bà Đỗ Thị H1 đang thực tế cư trú và quản lý toàn bộ căn nhà, bà Đỗ Thị V đã nhiều lần yêu cầu bà H1 hoàn trả giá trị phần nhà đất của bà V được hưởng nhưng bà H1 không đồng ý. Vì vậy, bà Đỗ Thị V khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 27, diện tích: 230,7 m², tại địa chỉ: 2 đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà V yêu cầu được hưởng theo quy định pháp luật.

Theo bản tự khai ngày 16/4/2020, bà Đỗ Thị H1 là bị đơn trình bày:

Nguồn gốc khu đất gồm căn hộ 235/92, B và B P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là của cha mẹ bà là ông Đỗ Văn M1 và bà Nguyễn Thị H3 mua trước năm 1947.

Sau đó cha mẹ bà cho hai người anh là Đỗ Văn T2 khoảng 50m² đất, Đỗ Văn H2 80m² đất.

Tháng 11/2000 do nhà bị dột và hư hỏng nên bà H1 đã phá bỏ và xây dựng lại ngôi nhà. Đến năm 2009 bà H3 chết, có để lại di chúc và dặn dò nhà để làm từ đường chỉ cho ở chứ không được bán.

Ngày 24/5/2004 mọi người đã đồng ý làm kê khai di sản thừa kế tại Phòng C và thống nhất như sau: Bà Đỗ Thị H1 thừa hưởng phần của bà Nguyễn Thị H3, tám người thừa hưởng phần của ông M1. Đối với yêu cầu của bà V thì bà H1 không đồng ý.

Trường hợp Tòa án chia tài sản chung, bà H1 yêu cầu các đồng sở hữu trả lại chi phí xây nhà và sửa chữa hàng năm cho bà H1 theo giá trị thực tế.

Theo đơn yêu cầu độc lập và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T do bà Nguyễn Ngọc T1 là đại diện hợp pháp, ông Đỗ Văn T2, bà Trần Thị M đồng thời bà M đại diện cho chị Đỗ Tần N trình bày:

Các ông, bà thống nhất ý kiến với nguyên đơn, đề nghị chia tài sản là căn nhà 235/92 Phạm Văn H4 theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị P1 trình bày:

Bà thống nhất với trình bày của bị đơn bà H1. Bà đề nghị trả cho bà V số tiền 600.000.000 đồng phần thừa kế của bà V để chuyển quyền sở hữu cho bà Phước nhận để thờ cúng ông bà.

Theo đơn yêu cầu độc lập và bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H2 trình bày:

Ông là con của ông Đỗ Văn M1 và bà Nguyễn Thị H3, ông đồng ý nhận thừa kế theo văn bản khai nhận di sản tại Phòng C, ông không kiện hay tranh chấp gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 527/2024/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, quyết định:

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn H2.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị V và yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Tần N, bà Trần Thị M:

    1. Xác định căn nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số: 27 (BĐĐC-2005), diện tích: 230,7 m², địa chỉ: 2 đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của bà Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Trần Thị M, Đỗ Tần N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 889618, số vào sổ cấp GCN CH01580 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 06/11/2017.

    2. Xác định phần sở hữu như sau: Bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị P1, ông Đỗ Văn H2 mỗi người được hưởng phần tài sản bằng 25/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Đỗ Thị H1 được hưởng phần tài sản bằng 193/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Trần Thị M được hưởng phần tài sản bằng 1/48 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, chị Đỗ Tần N được hưởng phần tài sản bằng 11/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất.

    3. Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bà Đỗ Thị H1 được quyền ưu tiên nhận nhà và quyền sử dụng đất đồng thời thanh toán phần giá trị tương ứng cho các chủ sở hữu còn lại. Hết thời hạn 03 tháng nếu bà Đỗ Thị H1 không yêu cầu được nhận nhà và thanh toán phần giá trị tương ứng cho các chủ sở hữu còn lại thì một trong các ông, bà: Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Trần Thị M, Đỗ Tần N được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi căn nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số: 27 (BĐĐC-2005), diện tích: 230,7 m², địa chỉ: 2 đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 889618, số vào sổ cấp GCN CH01580 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 06/11/2017. Sau khi cấn trừ các chi phí phát mãi theo quy định pháp luật, mỗi đồng sở hữu được hưởng theo phần nêu trên.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, ông Đỗ Văn H2, bà Trần Thị M được miễn tiền án phí.

    Bà Đỗ Thị P1 phải nộp 75.991.071 đồng.

    Bà Đỗ Thị H1 phải nộp 124.980.553 đồng.

    Bà Đỗ Thị V phải nộp 75.991.071 đồng, bà Đỗ Thị V đã nộp tiền tạm ứng án phí 16.285.720 đồng theo biên lai thu tiền số 0039977 ngày 26/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, cấn trừ vào nghĩa vụ án phí, bà Đỗ Thị V còn phải nộp 59.705.351 đồng.

    Bà Đỗ Tần N phải nộp 41.034.107 đồng. Bà Đỗ Tần N đã nộp tiền tạm ứng án phí 8.928.575 đồng theo biên lai thu tiền số 0069253 ngày 29/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, cấn trừ nghĩa vụ án phí, bà Đỗ Tần N còn phải nộp 32.105.532 đồng.

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2024, bà Đỗ Thị H1 kháng cáo xin miễn án phí.

Ngày 05/9/2024, bà Đỗ Thị P1 kháng cáo xin miễn án phí.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bà Đỗ Thị H1 và bà Đỗ Thị P1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí, không yêu cầu xem xét về nội dung vụ án.

  • Luật sư Mai Ngọc H, ông P đại diện cho bà Đỗ Thị V và các đương sự khác có mặt tại phiên tòa không có ý kiến.

  • Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

    Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

    Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà H1 và bà Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Đỗ Thị P1 khai ông M1 và bà H3 có 08 người con, trong đó có ông Đỗ Văn V1 nhưng bà Phước không cung cấp cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Quá trình giải quyết vụ án, các ông bà V, T2, T, M, N khai có nghe thông tin về ông V1 và nghe nói ông V1 đã chết, thông tin cụ thể thì các ông, bà không biết. Phía bà H1 và ông H2 không cung cấp thông tin gì liên quan đến ông V1. Theo xác nhận thông tin về cư trú số 07/XN ngày 01/3/2023 của Công an P2, quận T thì không có hồ sơ lưu trữ, không có thông tin đăng ký thường trú của ông Đỗ Văn V1 trong hồ sơ hộ khẩu nhà số B P. Do đó, Hội đồng xét xử không đưa ông Đỗ Văn V1 vào tham gia tố tụng.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H2 vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt coi như từ bỏ yêu cầu độc lập. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn H2. Ông H2 không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xét.

[2] Về nội dung:

Nhà đất số B P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh hiện tại do bà Đỗ Thị H1 quản lý. Bà Đỗ Thị H1 trình bày bà có sửa chữa, xây dựng lại ngôi nhà vào tháng 11/2000 và yêu cầu trả lại tiền xây nhà, sửa chữa cho bà, tuy nhiên bà H1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh.

Theo Bản tường trình ngày 15/8/2017 do bà Đỗ Thị H1 nộp cho Ủy ban nhân dân Phường E, quận T (trong hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận T) thể hiện nhà do bà H3 sửa chữa. Do đó không có cơ sở xem xét yêu cầu này của bà H1.

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 889618 ngày 06/11/2017 do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho bà Đỗ Thị H1, trong đó bà Đỗ Thị H1 là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm các ông, bà Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Trần Thị M, Đỗ Tần N và lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định nhà đất số B P, Phường E, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của bà V, bà H1, ông T2, bà T, bà Phước, ông H2, bà M, bà N.

Căn cứ Tờ di chúc do bà Nguyễn Thị H3 lập ngày 03/6/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường E, quận T, căn cứ Văn bản khai nhận di sản thừa kế lập ngày 24/5/2014 tại Phòng C1 và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thì bà Đỗ Thị H1 được hưởng phần di sản của bà H3 là ½ giá trị nhà đất số B P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Phần di sản là ½ căn nhà thuộc sở hữu của ông Đỗ Văn M1 được chia đều cho 08 người, gồm vợ là bà Nguyễn Thị H3 và 07 người con là bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, ông Đỗ Văn H2, bà Đỗ Thị P1, bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị V, ông Đỗ Văn T3, mỗi người nhận 1/16 giá trị nhà đất.

Ông Đỗ Văn T3 chết năm 1998 và không để lại di chúc nên phần tài sản của ông T3 được chia đều cho 03 người gồm mẹ của ông T3 là bà Nguyễn Thị H3, vợ là bà Trần Thị M và con của ông T3 là chị Đỗ Tần N, mỗi người được nhận 1/48 giá trị nhà đất.

Phần tài sản mà bà H3 được thừa hưởng từ ông M1 và ông T3, tổng cộng là 1/12 giá trị căn nhà sẽ được chia đều cho các con và cháu của bà Nguyễn Thị H3 gồm bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, ông Đỗ Văn H2, bà Đỗ Thị P1, bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị V, chị Đỗ Tần N (thừa kế thế vị), cụ thể mỗi người nhận 1/84 giá trị nhà đất.

Từ các căn cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị P1, ông Đỗ Văn H2 được hưởng phần tài sản bằng 25/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Đỗ Thị H1 được hưởng phần tài sản bằng 193/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Trần Thị M được hưởng phần tài sản bằng 1/48 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Đỗ Tần N được hưởng phần tài sản bằng 11/336 giá trị nhà đất.

Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đỗ Thị H1 được quyền ưu tiên nhận nhà đất và có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị nhà đất cho các đồng sở hữu. Hết thời hạn 03 tháng nếu bà H1 không thanh toán phần giá trị nhà đất cho các đồng sở hữu thì các ông, bà T, T2, P1, H2, H1, V, M, Như được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi căn nhà đất để thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo về nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Bà H1 và bà Phước kháng cáo xin miễn án phí. Bà H1 sinh năm 1962 và bà Phước sinh năm 1956 là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm về án phí, miễn án phí cho bà H1 và bà Phước.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  • Căn cứ Điều 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị H1 và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị P1, sửa bản án sơ thẩm về án phí như sau:

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn H2.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị V và yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Tần N, bà Trần Thị M:

    1. Xác định căn nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 27 (BĐĐC-2005), diện tích 230,7m², địa chỉ 2 đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 889618, số vào sổ cấp GCN CH01580 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 06/11/2017) là tài sản chung của các ông, bà: Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Trần Thị M, Đỗ Tần N.

    2. Xác định phần sở hữu như sau: Bà Đỗ Thị V, bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, bà Đỗ Thị P1, ông Đỗ Văn H2 mỗi người được hưởng phần tài sản bằng 25/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Đỗ Thị H1 được hưởng phần tài sản bằng 193/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Trần Thị M được hưởng phần tài sản bằng 1/48 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất, bà Đỗ Tần N được hưởng phần tài sản bằng 11/336 giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất.

    3. Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đỗ Thị H1 được quyền ưu tiên nhận nhà và quyền sử dụng đất đồng thời thanh toán phần giá trị tương ứng cho các chủ sở hữu còn lại. Hết thời hạn 03 tháng nếu bà Đỗ Thị H1 không yêu cầu được nhận nhà và thanh toán phần giá trị tương ứng cho các chủ sở hữu còn lại thì một trong các ông, bà: Đỗ Thị T, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị P1, Đỗ Văn H2, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị V, Trần Thị M, Đỗ Tần N được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi căn nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số: 27 (BĐĐC-2005), diện tích: 230,7 m², địa chỉ: 2 đường P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 889618, số vào sổ cấp GCN CH01580 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 06/11/2017. Sau khi cấn trừ các chi phí phát mãi theo quy định pháp luật, mỗi đồng sở hữu được hưởng theo phần nêu trên.

  3. Về án phí:

    Bà Đỗ Thị H1, bà Đỗ Thị P1, bà Đỗ Thị T, ông Đỗ Văn T2, ông Đỗ Văn H2 và bà Trần Thị M được miễn án phí.

    Bà Đỗ Thị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 75.991.071 đồng, được trừ vào số tiền 16.285.720 đồng tạm ứng án phí bà Đỗ Thị V đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0039977 ngày 26/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, bà Đỗ Thị V còn phải nộp thêm 59.705.351 đồng.

    Bà Đỗ Tần N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 41.034.107 đồng, được trừ vào số tiền 8.928.575 đồng tạm ứng án phí bà Đỗ Tần N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0069253 ngày 29/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, bà Đỗ Tần N còn phải nộp thêm 32.105.532 đồng.

  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Tân Bình;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Uông Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 964/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tài sản chung

  • Số bản án: 964/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Hưng và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Phước, sửa bản án sơ thẩm về án phí
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger