|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 963/2024/HS-PT |
|
|
Ngày: 11/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hưng;
Ông Nguyễn Nam Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1113/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Thị L và các bị cáo khác phạm tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
* Các bị cáo có kháng cáo:
-
Vũ Thị L, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Q (Vũ Đình Q1) và bà Lương Thị N; chồng là Đoàn Văn T và có 01 con, sinh năm 1991; tiền án: Ngày 26/10/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 29/01/2024 chuyển tạm giam; ngày 07/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
-
Nguyễn Đức V, sinh năm 1991 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ở: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Cán bộ ngành Công an, bị tước danh hiệu Công an nhân dân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị N1; vợ là Nguyễn Thị Thùy D và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024 chuyển tạm giam; ngày 16/4/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
-
Nguyễn Tiến L1, sinh năm 1989 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T2 (Nguyễn Văn T3) và bà Phạm Thị Tấn T4; vợ là Bùi Thị Thu H và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/10/2009 Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh người gây thương tích, đã chấp hành xong; ngày 04/11/2010, Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong bản án; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
-
Đỗ Văn T5, sinh năm 1980 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đ1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ là Thị T6 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 28/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến L1: Luật sư Nguyễn Văn N2 - Công ty L3 và Cộng sự, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn T5: Luật sư Nguyễn Đức H1 và Luật sư Nguyễn Tiến H2 - Công ty L4, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Bùi Văn M, Nguyễn Văn H3, Hoàng Văn C, Trần Văn D2, Đặng Văn K, Lê Trọng T7, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về việc Nguyễn Văn H3 có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề trái phép tại nhà ở của mình thông qua tin nhắn trên ứng dụng mạng xã hội Zalo, T8 được cài đặt trên điện thoại di động. Ngày 18/01/2024, tổ công tác của Phòng C1 Công an tỉnh H đã triệu tập H3 về trụ sở để làm rõ hành vi tổ chức đánh bạc. Tại Cơ quan điều tra, H3 khai nhận là thư ký lô đề cho Bùi Văn M, hàng ngày H3 sử dụng tài khoản Zalo tên “Msc”, đăng ký bởi số thuê bao 0985.131.678 trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus để nhận số lô đề trái phép của Trần Văn D2, Đỗ Văn T5, Nguyễn Đức V và những người chơi khác. Sau đó, H3 tổng hợp nhắn tin chuyển bảng số lô đề đến tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc” của M để hưởng tiền hoa hồng. Nguyễn Văn H3 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, lắp 01 sim V1, được niêm phong (ký hiệu A7).
Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã triệu tập Bùi Văn M, Trần Văn D2, Nguyễn Đức V và Đỗ Văn T5 đến trụ sở để đấu tranh làm rõ hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc với H3. Quá trình làm việc D2, T5 khai nhận sử dụng điện thoại di động có cài đặt ứng dụng Zalo, Telegram để nhắn tin mua bán số lô đề trái phép với H3; V nhận số lô đề của Nguyễn Tiến L1 sau đó chuyển cho H3. M khai nhận sử dụng tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc” để nhận số lô đề trái phép do H3, Hoàng Văn C và Vũ Thị L chuyển đến; C khai nhận là thư ký lô đề cho M, sau khi nhận số lô đề trái phép của người chơi, C chuyển cho M để hưởng lợi và đánh bạc với Đặng Văn K; L đánh bạc với M và Lê Trọng T7; T7, K, L1 thừa nhận hành vi đánh bạc với C, L và V.
Căn cứ tài liệu đã thu thập, ngày 19/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Bùi Văn M, Nguyễn Văn H3 Trần Văn D2 Nguyễn Đức V Đỗ Văn T5 Hoàng Văn C Vũ Thị L Đặng Văn K Lê Trọng T7, Nguyễn Tiến L1; ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Văn H4, nhưng không bắt được do H4 không có mặt tại nơi cư trú. Quá trình khám xét nơi ở của M tại thôn L, xã M, thị xã D thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, tình trạng máy không còn nguyên vẹn (bị gãy tách rời phần màn hình, pin, linh kiện) và 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có các số tự nhiên 8984048000901408709 và có ghi ký tự “2T” được niêm phong (ký hiệu M4), không phát hiện thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án khi khám xét khẩn cấp nơi ở của H3, C, L, K, L1, V, T5, D2, T7; ra lệnh khám xét nơi ở của Trần Văn H4 nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra, Bùi Văn M giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, lắp 01 sim V1 có các số 8984048851001583249; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, lắp 01 sim V1 có các số 8984048000008801668; 01 điện thoại Nokia, lắp 01 sim Viettel có các số 8984048008826032737, được niêm phong (ký hiệu lần lượt M1, M2, M3); Hoàng Văn C giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, lắp sim V1 có các số 8984048000915416098, được niêm phong (ký hiệu CGN); Trần Văn D2 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15, số thuê bao 0967524444 và số thuê bao 0989687690, được niêm phong (ký hiệu ĐT4); Vũ Thị L giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, số thuê bao 0867.026.568, được niêm phong (ký hiệu ĐT1); Nguyễn Tiến L1 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số thuê bao 0973.613.789, được niêm phong (ký hiệu ĐT2); Nguyễn Đức V giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, số thuê bao 0972.727.027, được niêm phong (ký hiệu ĐT3); Đỗ Văn T5 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, có lắp 01 sim Vinaphone có các số 89840200011109145191, được niêm phong (ký hiệu TGN); Đặng Văn K giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, số thuê bao 0968250222 và số thuê bao 0933059111, được niêm phong (ký hiệu ĐTK1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số thuê bao 0908112404 được niêm phong (ký hiệu ĐTK2); Lê Trọng T7 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, số thuê bao 0986046843 được niêm phong (ký hiệu THBGN).
Khai thác dữ liệu điện thoại di động do Bùi Văn M giao nộp phát hiện điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, lắp 01 sim V1 có các số 8984048851001583249 (ký hiệu M1) phát hiện tài khoản Telegram “Bùi Mùi” đăng ký từ số điện thoại 0988.268.xxx có tin nhắn đến tài khoản Telegram tên “A L2” đăng ký từ số điện thoại 0978.613.xxx và tài khoản Telegram tên “Hoàn Hoài” đăng ký từ số điện thoại 0978.826.xxx có nội dung liên quan đến việc mua bán số lô đề, tất cả được in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của M; tài khoản Zalo tên “Mùi Mạnh M1” và các thư mục khác không có nội dung liên quan đến vụ án. Điện thoại di động thu giữ (ký hiệu M2, M3) không phát hiện có nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc.
Khai thác dữ liệu điện thoại di động do Nguyễn Văn H3 giao nộp (ký hiệu A7) phát hiện tài khoản Zalo tên “Msc” đăng ký số điện thoại 0985.131.xxx có 13 hình ảnh có nội dung mua bán số lô đề; tài khoản Telegram tên “MSC” có 25 hình ảnh liên quan đến việc mua bán số lô đề. Tất cả được in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của H3.
Khai thác dữ liệu điện thoại do Hoàng Văn C giao nộp (ký hiệu CGN) phát hiện tài khoản Zalo tên “Trai Họ N3” đăng ký số điện thoại 0986.406.xxx có nội dung mua bán số lô đề với tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc” và tài khoản Zalo tên “Cu ti3”, tất cả được in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của C. Các thư mục khác không có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Khai thác dữ liệu điện thoại do Vũ Thị L giao nộp (ký hiệu ĐT1) phát hiện tài khoản Zalo tên “Vũ Thị L” có nội dung mua bán số lô với tài khoản Zalo tên “Ba Gio” và tài khoản Zalo tên “Ba Kênh” mua bán đề ba càng, tất cả được in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của L. Các thư mục khác không có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Khai thác dữ liệu điện thoại di động do Nguyễn Tiến L1 giao nộp (ký hiệu ĐT2) và Nguyễn Đức V giao nộp (ký hiệu ĐT3) không phát hiện thấy có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Khai thác dữ liệu điện thoại di động do Trần Văn D2 giao nộp (ký hiệu ĐT 4) phát hiện tài khoản Zalo tên “Potter” có nội dung mua bán số lô đề trái phép với tài khoản Zalo tên “Msc” của H3, tất cả được in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của D2, H3. Các thư mục khác không có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Khai thác dữ liệu điện thoại do Đỗ Văn T5 giao nộp (ký hiệu TGN) có số thuê bao 0942.461.414 đăng ký tài khoản Zalo tên “Tannoy”; danh bạ Z có tài khoản Zalo tên “Msc” nhưng không có dữ liệu liên quan đến việc mua bán số lô đề. Các thư mục khác không có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Khai thác dữ liệu điện thoại do Đặng Văn K giao nộp (ký hiệu ĐTK1) có số thuê bao 0968.250.222 và số thuê bao 0933.059.111 không có dữ liệu liên quan đến vụ án; điện thoại (ký hiệu ĐTK2) số thuê bao 0908.112.404, đăng ký tài khoản Zalo tên “Khương Gia B”; tài khoản Telegram “Khương Gia B” nhưng không có dữ liệu liên quan đến việc mua bán số lô đề. Các thư mục khác không có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Khai thác dữ liệu điện thoại do Lê Trọng T7 giao nộp (ký hiệu THBGN) số thuê bao 0986.046.843 không có dữ liệu liên quan đến việc mua bán số lô đề.
Cách thức đánh bạc như sau: Theo quy ước của những người chơi số lô, đề trái phép là dựa vào kết quả giải thưởng xổ số kiến thiết khu vực Miền B vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày để tính thắng thua như sau:
- - Chơi đánh số đề 02 số: Người mua tự chọn các số gồm hai số tự nhiên bất kỳ (từ số 00 đến số I) tương ứng với số tiền mua số đề đó. Nếu số đề của người mua trùng với hai số cuối cùng của giải đặc biệt thì người mua sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua.
- - Chơi đánh số ba càng (đề 3 số): Người mua tự chọn các số gồm ba số tự nhiên bất kỳ (từ số 000 đến số I), tương ứng với số tiền mua số đề đó. Nếu số đề của người mua trùng với ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì người mua được hưởng số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra mua.
- - Chơi đánh lô: Gồm có bao lô (là một cặp số tự nhiên có 2 chữ số), lô xiên 2 (gồm 2 cặp số tự nhiên có 2 chữ số), lô xiên 3 (gồm 3 cặp số tự nhiên có 2 chữ số), lô xiên 4 (gồm 4 cặp số tự nhiên có 2 chữ số). Cách tính 01 điểm bao lô do các bên tham gia chơi tự thoả thuận, cụ thể:
- + Bao lô: Người chơi chọn mua một cặp số tự nhiên bất kỳ gồm 2 số từ 00 đến 99. Nếu cặp số đã mua trùng với 2 số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy thì người mua được hưởng số tiền là 80.000 đồng/01điểm.
- + Lô xiên 2, 3, 4: Người chơi chọn mua 2, 3, 4 cặp số tự nhiên bất kỳ gồm 2 số từ 00 đến 99. Nếu 2, 3, 4 cặp số đã mua trùng với 2, 3, 4 cặp số cuối của tất cả các giải thì người mua được hưởng tương ứng số tiền gấp 10 lần, 40 lần, 100 lần so với số tiền đã bỏ ra mua.
Căn cứ kết quả điều tra và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định Bùi Văn M, Nguyễn Văn H3, Trần Văn D2, Nguyễn Đức V, Đỗ Văn T5, Hoàng Văn C, Vũ Thị L, Đặng Văn K, Lê Trọng T7, Nguyễn Tiến L1, Trần Văn H4 có hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô đề, cụ thể như sau:
Bị cáo Bùi Văn M là chủ lô đề, ngày 18/01/2024 M sử dụng tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc” để tổ chức cho Nguyễn Văn H3, Hoàng Văn C đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô đề, cụ thể: Mùi nhận của C qua tài khoản Zalo tên “Trai Họ Nguyễn” 12.800 điểm lô, M tính giá một điểm lô là 23.000 đồng tương ứng số tiền 294.400.000 đồng, đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, C trúng thưởng 4.000 điểm lô tương ứng số tiền 320.000.000 đồng, số tiền M tổ chức đánh bạc trái phép với C là 614.400.000 đồng (294.400.000 đồng + 320.000.000 đồng). Mùi nhận của Nguyễn Văn H3 qua tài khoản Zalo tên “Msc” 1.200 điểm lô tương ứng số tiền 26.016.000 đồng, 2.145.000 đồng tiền đề và 2.640.000 đồng tiền lô xiên. H3 trúng thưởng 22.800.000 đồng, gồm 260 điểm lô tương ứng số tiền 20.800.000 đồng, 200.000 đồng tiền lô xiên 2 tương ứng số tiền 2.000.000 đồng, số tiền H3, M tổ chức đánh bạc là 53.601.000 đồng (26.016.000 đồng +2.145.000 đồng + 2.640.000 đồng + 22.800.000 đồng). Mùi nhận của Vũ Thị L qua tài khoản Zalo tên “Vũ Thị L” 1.318.000 đồng tiền số đề 03 càng, L không trúng thưởng, số tiền M sử dụng đánh bạc với Vũ Thị L là 1.318.000 đồng.
Ngày 17/01/2024, M sử dụng tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc” để nhận 9.800.000 đồng tiền đề của Trần Văn H4 qua tài khoản Telegram tên “Hoàn Hoài”, M và H4 thỏa thuận tính giá đề là 73% trên tổng số tiền đề H4 mua tương ứng số tiền là 7.154.000 đồng, H4 trúng thưởng số tiền 14.000.000 đồng. Số tiền M tổ chức đánh bạc trái phép với H4 là 21.154.000 đồng. Mùi nhận của H3 180 điểm lô tương đương số tiền 3.902.400 đồng, H3 trúng thưởng 4.000.000 đồng, số tiền M tổ chức đánh bạc trái phép với H3 là 7.902.400 đồng.
Cùng ngày, M chuyển cho Nguyễn Đức V 120 điểm lô, V tính giá 01 điểm lô là 21.800 đồng tương ứng số tiền 2.616.000 đồng, M trúng thưởng 60 điểm tương đương 4.800.000 đồng, số tiền M tổ chức đánh bạc trái phép với V là 7.416.000 đồng.
Ngày 05/01/2024, M nhận của H3 822.250 đồng tiền đề, đề ba càng (1.150.000 đồng x 71,5%); ngày 03/01/2024 nhận 200 điểm lô tương đương số tiền 4.336.000 đồng; ngày 02/01/2024 nhận 300 điểm lô tương đương số tiền 6.504.000 đồng.
Như vậy, ngày 18/01/2024 Bùi Văn M tổ chức đánh bạc trái phép với số tiền là 669.319.000 đồng (614.400.000 đồng + 1.318.000 đồng + 53.601.000 đồng); ngày 17/01/2024 với số tiền là 29.056.400 đồng (21.154.000 đồng + 7.902.400 đồng); ngày 05/01/2024 với số tiền 822.250 đồng; ngày 03/01/2024 với số tiền 4.336.000 đồng; ngày 02/01/2024 với số tiền 6.504.000 đồng.
Bị cáo Hoàng Văn C là thư ký lô đề cho Bùi Văn M, ngày 18/01/2024 C sử dụng tài khoản Telegram tên “BĐS” đăng ký bằng số thuê bao di động 0353486147 (thuê bao không chính chủ) để nhận tin nhắn trái phép số lô từ tài khoản Telegram tên “Cu ti3” đăng ký bằng số điện thoại 0915.379.xxx (C không xác định được nhân thân lai lịch) tổng 32 số lô, mỗi số lô 700 điểm (dạng lô dàn) tương đương 22.400 điểm lô, do là lô dàn nên C tính giá một điểm lô là 23.500 đồng tương ứng số tiền 526.400.000 đồng. Sau khi nhận số lô từ tài khoản Telegram tên “Cu ti3”, C sử dụng tài khoản Zalo tên “Trai Họ N3” nhắn tin chuyển 12.800 điểm lô cho Bùi Văn M qua tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc”, M tính giá một điểm lô là 23.000 đồng tương đương số tiền 294.400.000 đồng; C sử dụng tài khoản Telegram tên “BĐS” nhắn tin chuyển 320 điểm lô cho Đặng Văn K qua tài khoản Telegram tên “Khương Gia B”, K tính giá một điểm lô là 22.500 đồng tương đương số tiền 7.200.000 đồng. Còn 9.280 điểm lô tương ứng số tiền 218.080.000 đồng, C giữ lại và trả thưởng cho tài khoản Telegram tên “Cu ti3”. Đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, tài khoản Telegram tên “Cu ti3” trúng thưởng 7.000 điểm lô tương đương số tiền 560.000.000 đồng, số tiền C tổ chức đánh bạc trái phép với tài khoản “Cu ti3” là 1.086.400.000 đồng (526.400.000 đồng + 560.000.000 đồng), số tiền C thu lợi bất chính do chênh lệch trong việc tính giá lô là 6.720.000 đồng (12.800 điểm x 500 đồng) + (320 điểm lô x 1000 đồng).
Bị cáo Nguyễn Văn H3 là thư ký lô đề, H3 sử dụng tài khoản Zalo tên “Msc” để nhận trái phép số lô đề của Trần Văn D2, Đỗ Văn T5 và những người chơi khác nhưng H3 không xác định được tên, tuổi, địa chỉ; sử dụng tài khoản Telegram tên “MSC” để nhận trái phép số lô của Nguyễn Đức V, sau đó chuyển cho Bùi Văn M để hưởng tiền hoa hồng, cụ thể: Ngày 02/01/2024, H3 nhận của D2 300 điểm lô tương ứng số tiền 6.600.000 đồng; ngày 03/01/2024, H3 nhận của D2 200 điểm lô tương ứng số tiền 4.400.000 đồng; ngày 05/01/2024, H3 nhận của D2 1.150.000 đồng tiền đề, đề ba càng và D2 đều không trúng thưởng.
Ngày 17/01/2024, H3 nhận từ tài khoản Zalo tên “Tannoy” của Đỗ Văn T5 180 điểm lô tương ứng số tiền 3.960.000 đồng. T5 trúng thưởng số tiền 4.000.000 đồng, số tiền H3, T5 sử dụng đánh bạc là 7.960.000 đồng (3.960.000 đồng + 4.000.000 đồng). Ngày 18/01/2024, H3 nhận 200 điểm lô tương ứng số tiền 4.400.000 đồng, T5 trúng thưởng số tiền 1.600.000 đồng, số tiền H3, T5 sử dụng đánh bạc trái phép là 6.000.000 đồng (4.400.000 đồng + 1.600.000 đồng).
Ngày 18/01/2024, H3 nhận từ tài khoản Telegram tên “Đức Việt” của Nguyễn Đức V 120 điểm lô tương ứng số tiền 2.616.000 đồng. V trúng thưởng số tiền 4.800.000 đồng, số tiền H3, V sử dụng đánh bạc trái phép là 7.416.000 đồng. Ngoài ra, ngày 18/01/2024 H3 còn nhận trái phép 880 điểm lô của những người chơi khác nhưng H3 không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, H3 tính giá 01 điểm lô là 22.000 đồng tương ứng số tiền là 19.360.000 đồng; 3.000.000 đồng tiền đề và 4.400.000 đồng tiền lô xiên.
Sau khi nhận số lô đề trái phép của T5, V và người chơi khác, H3 sử dụng tài khoản Zalo tên “Msc” để gửi tin nhắn số lô đề đến tài khoản Zalo tên “Vĩnh Phúc” của M để hưởng tiền hoa hồng. M và H3 thoả thuận giá 01 điểm lô là 21.680 đồng, đề tính 71,5%, lô xiên là 60% trên tổng số tiền H3 chuyển cho M. Ngày 18/01/2024, H3 chuyển cho M 1.200 điểm lô tương ứng số tiền 26.016.000 đồng (1.200 điểm x 21.680 đồng), 2.145.000 đồng tiền đề (3.000.000 đồng x 71,5%) và 2.640.000 đồng tiền lô xiên (4.400.000 đồng x 60%). Tổng số tiền lô đề H3 chuyển cho M ngày 18/01/2024 là 30.801.000 đồng (26.016.000 đồng + 2.145.000 đồng + 2.640.000 đồng). Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H3 trúng thưởng 22.800.000 đồng, trong đó có 260 điểm lô tương ứng số tiền 20.800.000 đồng, 200.000 đồng tiền lô xiên 2 tương ứng số tiền 2.000.000 đồng. Tổng số tiền lô đề H3, M sử dụng đánh bạc ngày 18/01/2024 là 53.601.000 đồng (30.801.000 đồng + 22.800.000 đồng).
Như vậy, ngày 18/01/2024 Nguyễn Văn H3 tổ chức đánh bạc trái phép với số tiền là 56.576.000 đồng (4.400.000 đồng + 2.616.000 đồng + 26.760.000 đồng + 22.800.000 đồng), thu lợi bất chính là 2.999.000 đồng (1.200 điểm lô x 320 đồng) + 855.000 đồng tiền đề + 1.760.000 đồng lô xiên; ngày 17/01/2024 với số tiền 7.960.000 đồng, thu lợi bất chính 57.600 đồng (180 điểm lô x 320 đồng); ngày 02/01/2024 là 6.600.000 đồng, thu lợi bất chính là 96.000 đồng (300 điểm lô x 320 đồng); ngày 03/01/2024 với số tiền là 4.400.000 đồng, thu lợi bất chính là 64.000 đồng (200 điểm lô x 320 đồng); ngày 05/01/2024 với số tiền 1.150.000 đồng, thu lợi bất chính là 40.250 đồng (825.000 đồng tiền đề + 325.000 đồng đề 03 càng) x 3,5%.
Bị cáo Vũ Thị L do có quen biết với Bùi Văn M từ trước, ngày 18/01/2024 L sử dụng tài khoản Zalo tên “Vũ Thị L” đăng ký bằng số điện thoại 0867.026.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo tên nhóm “Ba Kềnh” để đánh bạc trái phép với M dưới hình thức mua số đề 03 càng với tổng số tiền 2.636.000 đồng, M tính giá đề ba càng là 50% số tiền L sử dụng đánh bạc với M là 1.318.000 đồng. Ngoài ra, L sử dụng tài khoản Zalo tên “Vũ Thị L” để đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô với tài khoản Zalo tên “Ba Gio” đăng ký bằng số điện thoại 0986.046.xxx của Lê Trọng T7. Ngày 17/01/2024, L nhận của T7 200 điểm lô, L tính giá một điểm lô là 21.800 đồng, tương ứng số tiền 4.360.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, T7 trúng thưởng 100 điểm lô tương ứng số tiền là 8.000.000 đồng. Số tiền L sử dụng đánh bạc trái phép với T7 là 12.360.000 đồng. Với cách thức trên, ngày 18/01/2024 L nhận của T7 200 điểm lô, tương ứng số tiền là 4.360.000 đồng và T7 không trúng thưởng, số tiền L sử dụng đánh bạc với T7 là 4.360.000 đồng.
Bị cáo Lê Trọng T7, ngày 17/01/2024 sử dụng tài khoản Zalo tên “Ba Hiền” của T7 để mua 200 điểm lô tương ứng số tiền 4.360.000 đồng với tài khoản Zalo tên “Vũ Thị L” của Vũ Thị L. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, T7 trúng thưởng 100 điểm lô tương ứng số tiền là 8.000.000 đồng. Như vậy, số tiền T7 sử dụng đánh bạc là 12.360.000 đồng (4.360.000 đồng + 8.000.000 đồng). Ngày 18/01/2024, T7 mua 200 điểm lô của L tương ứng số tiền là 4.360.000 đồng và T7 không trúng thưởng, số tiền T7 sử dụng đánh bạc là 4.360.000 đồng.
Bị cáo Trần Văn D2 sử dụng tài khoản Zalo tên “Potter” để mua số lô trái phép của H3 thông qua tài khoản Zalo tên “Msc”. Ngày 02/01/2024, D2 mua 300 điểm lô, H3 tính giá 01 điểm lô là 22.000 đồng tương ứng số tiền 6.600.000 đồng, D2 không trúng thưởng. Tương tự, ngày 03/01/2024, D2 mua 200 điểm lô tương ứng số tiền 4.400.000 đồng, D2 không trúng thưởng. Ngày 05/01/2024, D2 mua 1.100.000 đồng tiền đề, H3 tính giá đề là 75% tương ứng số tiền 825.000 đồng và mua 500.000 đồng tiền đề ba càng, H3 tính giá đề ba càng là 65% tương ứng số tiền 325.000 đồng, D2 không trúng thưởng, số tiền D2 sử dụng đánh bạc lần lượt các ngày là 6.600.000 đồng, 4.400.000 đồng và 1.150.000 đồng (825.000 đồng + 325.000 đồng).
Bị cáo Đỗ Văn T5 sử dụng tài khoản Zalo tên “Tannoy” để mua trái phép số lô của H3 thông qua tài khoản Zalo tên “Msc”. Ngày 18/01/2024, T5 mua 200 điểm lô, H3 tính giá 01 điểm lô là 22.000 đồng tương ứng số tiền 4.400.000 đồng, đối chiếu kết quả xổ số Miền B1 mở thưởng cùng ngày T5 trúng thưởng 20 điểm lô tương ứng số tiền 1.600.000 đồng, số tiền T5 sử dụng đánh bạc 6.000.000 đồng (4.400.000 đồng + 1.600.000 đồng). Ngày 17/01/2024, T5 mua 180 điểm lô tương ứng số tiền 3.960.000 đồng, T5 trúng thưởng 50 điểm lô tương ứng số tiền 4.000.000 đồng, số tiền T5 sử dụng đánh bạc là 7.960.000 đồng (3.960.000 đồng + 4.000.000 đồng).
Bị cáo Nguyễn Đức V ngày 18/01/2024, sử dụng tài khoản Zalo tên “Chén xong sút” để nhận trái phép của Nguyễn Tiến L1 120 điểm lô tương ứng số tiền 2.616.000 đồng, sau đó V sử dụng tài khoản Telegram tên “Đ” chuyển số lô đã nhận của L1 đến tài khoản Telegram tên “MSC” của H3, giá 01 điểm lô H3 tính với V là 21.800 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, L1 trúng thưởng 60 điểm lô tương ứng số tiền 4.800.000 đồng. Số tiền V sử dụng đánh bạc là 7.416.000 đồng. Ngày 17/01/2024, V sử dụng tài khoản Zalo tên “Chén xong sút” để nhận trái phép của Bùi Văn M 120 điểm lô, V tính giá 01 điểm lô là 21.800 đồng tương ứng số tiền 2.616.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, M trúng thưởng 60 điểm lô tương ứng số tiền 4.800.000 đồng, số tiền V sử dụng đánh bạc là 7.416.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Tiến L1 ngày 18/01/2024, sử dụng tài khoản Zalo tên “Vinh P” nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Chén xong sút” của V để mua trái phép 120 điểm lô, V tính giá 01 điểm lô là 21.800 đồng tương ứng số tiền 2.616.000 đồng, đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, L1 trúng thưởng 60 điểm lô tương ứng số tiền 4.800.000 đồng, số tiền L1 sử dụng đánh bạc là 7.416.000 đồng và chưa thanh toán tiền cho nhau.
Bị cáo Đặng Văn K do có quan hệ là họ hàng với C và không làm thư ký lô đề nên khi C đặt vấn đề chuyển số lô trái phép, K đồng ý. Ngày 18/01/2024, K sử dụng tài khoản Telegram tên “Khương Gia B” nhận 320 điểm lô của C qua tài khoản Telegram tên “BĐS”, K tính giá 01 điểm lô là 22.500 đồng, tương ứng số tiền 7.200.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, C trúng thưởng 100 điểm lô tương đương 8.000.000 đồng, số tiền K sử dụng đánh bạc trái phép là 15.200.000 đồng.
Mở rộng điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 17/01/2024, Trần Văn H4 sử dụng tài khoản Telegram, đăng ký bởi số thuê bao 0978.826.666 nhắn tin đánh bạc dưới hình thức mua số đề trái phép của Bùi Văn M tổng số tiền là 9.800.000 đồng. Mùi thu 73% trên tổng số tiền đề tương ứng số tiền 7.154.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H4, trúng 200.000 đồng tiền đề tương ứng số tiền 14.000.000 đồng, số tiền H4 sử dụng đánh bạc với M là 21.154.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 390/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh N kết luận:
Điện thoại di động (ký hiệu Al) của Vũ Thị L: Phục hồi trích xuất được dữ liệu nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm “789 (Bẩy trăm tám mươi chín) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 03 (Ba) nhật ký cuộc gọi Facebook; 93 (Chín mươi ba) tin nhắn Facebook Messenger; 44 (Bốn mươi bốn) tin nhắn văn bản SMS; 595 (Năm trăm chín mươi lăm) tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A1” lưu trong đĩa DVD kèm theo”.
Điện thoại di động (ký hiệu A2) của Nguyễn Tiến L1: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm “209 (Hai trăm linh chín) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 219 (Hai trăm mười chín) nhật ký cuộc gọi Facebook; 1458 (Một nghìn bốn trăm năm mươi tám) tin nhắn Facebook Messenger; 165 (Một trăm sáu mươi lăm) tin nhắn văn bản SMS; 1521 (Một nghìn năm trăm hai mươi mốt) tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A2” lưu trong đĩa DVD kèm theo ".
Điện thoại di động (ký hiệu A3) của Nguyễn Đức V: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu “Nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm: 1183 (Một nghìn một trăm tám mươi ba) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 446 (Bốn trăm bốn mươi sáu) nhật ký cuộc gọi Facebook; 66 (Sáu mươi sáu) cuộc gọi Zalo; 1211 (Một nghìn hai trăm mười một) tin nhắn Facebook Mesenger; 164 (Một trăm sáu mươi tư) tin nhắn văn bản SMS; 926 (Chín trăm hai mươi sáu) tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A3” lưu trong đĩa DVD kèm theo”.
Điện thoại di động (ký hiệu A4) của Trần Văn D2: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu “Nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm: 467 (Bốn trăm sáu mươi bảy) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 66 (Sáu mươi sáu) nhật ký cuộc gọi Facebook Messenger; 1248 (Một nghìn hai trăm bốn mươi tám) tin nhắn Facebook Messenger; 492 (Bốn trăm chín mươi hai) tin nhắn văn bản SMS; 2449 (Hai nghìn bốn trăm bốn mươi chín) tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A4” lưu trong đĩa DVD kèm theo”.
Điện thoại di động (ký hiệu A5) của Nguyễn Văn H3: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu “Nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm: 74 (Bảy mươi tư) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 41 (Bốn mươi mốt) nhật ký cuộc gọi Facebook Messenger; 4818 (Bốn nghìn tám trăm mười tám) tin nhắn Facebook Messenger; 167 (Một trăm sáu mươi bảy) tin nhắn văn bản SMS; 167 (Một trăm sáu mươi bảy) tin nhắn Zalo; 30 (Ba mươi) file ảnh chứa nội dung tin nhắn Telegram trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A5” lưu trong đĩa DVD kèm theo”.
Điện thoại di động (ký hiệu A6) của Bùi Văn M: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu “Nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm; 1196 (Một nghìn một trăm chín mươi sáu) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 357 (Ba trăm năm mươi bảy) nhật ký cuộc gọi Facebook Messenger; 1962 (Một nghìn chín trăm sáu mươi hai) tin nhắn Facebook Messenger; 241 (Hai trăm bốn mươi mốt) tin nhắn văn bản SMS; 397 (Ba trăm chín mươi bảy) tin nhắn Zalo; 05 (Năm) file ảnh chứa tin nhắn Telegram trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A6” lưu trong đĩa DVD kèm theo”
Điện thoại di động (ký hiệu A7) của Hoàng Văn C: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu “Nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 trong điện thoại gửi giám định gồm: 95 (Chím mươi lăm) nhật ký cuộc gọi thoại; 92 (Chín mươi hai) tin nhắn văn bản SMS; 39 (Ba mươi chín) tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến hết ngày 18/01/2024. Được thể hiện trong thư mục “A7” lưu trong đĩa DVD kèm theo”.
Điện thoại di động (ký hiệu A8) của Đỗ Văn T5: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu “Nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn SMS, tin nhắn, cuộc gọi trên các ứng dụng Zalo, T8, M2 thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 18/01/2024 trong điện thoại gửi giám định gồm: 203 (Hai trăm linh ba) nhật ký cuộc gọi thoại; 130 (Một trăm ba mươi) tin nhắn văn bản SMS; 2776 (Hai nghìn bảy trăm bảy mươi sáu) tin nhắn Zalo”
Khai thác dữ liệu giám định lưu trữ trong 01 đĩa DVD, trong thư mục A1 (ký hiệu A1) có nội dung hồi 17:33:21 ngày 17/01/2024 nhận tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Ba Gio” với nội dung “Ghi cháu lô 7337x100đ”; hồi 17:34:38 ngày 17/01/2024 nhận tin nhắn từ tài khoản zalo có tên “Ba Gio” với nội dung “Ghi cháu lô 7337x100đ”; hồi 17:34:38 ngày 17/01/2024 gửi tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Vũ Thị L” đăng ký số thuê bao +84867026568 với nội dung “1”; hồi 17:48:59 ngày 18/01/2024 nhận tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Ba Gio” với nội dung “Ghi cháu lô 9119x100d”; hồi 17:57:55 ngày 18/01/2024 gửi tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Vũ Thị L” đăng ký số thuê bao 4-84867026568 với nội dung “1”.
Thư mục A3 (ký hiệu A3) mục tin nhắn Zalo thể hiện: Hồi 18:06:30 ngày 17/01/2024 gửi tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Chén Xong S (362861185)” với nội dung “Lo 49.94.26.62x30d” đến tài khoản Zalo có tên “Vĩnh Phúc”; Hồi 18:08:36 ngày 17/01/2024 nhận tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Vĩnh Phúc” với nội dung “Ok a”. Hồi 6:02:04 CH ngày 18/01/2024 gửi tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Chén Xong S” với nội dung “Lo 36.63.49.94x30d” đến tài khoản Zalo có tên “Vĩnh Phúc”; hồi 6:04:45 CH ngày 18/01/2024 nhận tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “Vĩnh Phúc” với nội dung “Ok a”.
Thư mục A4 (ký hiệu A4) mục tin nhắn Zalo thể hiện: Hồi 16:27:49 ngày 05/01/2024 gửi tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “D2 +84989687690” với nội dung “3 càng 005 500k” đến tài khoản Zalo không xác định; hồi 16:28:09 ngày 05/01/2024 gửi tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “D2 +84989687690” với nội dung “Đề 05 50 500k” đến tài khoản Zalo không xác định.
Thư mục A5 (ký hiệu A5) mục tin nhắn Telegram có 30 hình ảnh liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề được in ra 30 trang giấy A4. Hồi 17:58:55 ngày 02/01/2024 tài khoản Zalo “Potter” nhắn tin đến tài khoản Zalo "Hanko Machine Works +84985131678” với nội dung “lô 12,29 x150đ"; hồi 16:28:43 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Vĩnh Phúc” với nội dung “Lô 96x200đ”. Hồi 17:25:18 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Tannoy” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” với nội dung “L 52, 383 X 30₫ 25, 373, 575 x 10đ”; hồi 17:54:02 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Vĩnh Phúc” với nội dung"De.62.67.66.x.200.ng.De.63.797.64.69.676.121.97.45.81.x.200.ng.Lo.454. x.50.di.Lo.45.90.x.100.di.Lo.34.343.14.141.95.828.232.404.44.44.99.50.38.757. 959.545.44.x.20.di.”; hồi 17:54:35 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Vĩnh Phúc” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” với nội dung “Ok2”; hồi 18:01:29 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Vĩnh Phúc” với nội dung “Xiên quay.90.14.41.95.va.57.75.14.41.x.20d. Lo.02.181.575.14.323.x.30.di..”; hồi 18:01:33 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Vĩnh Phúc” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” với nội dung “1”. Hồi 18:01:48 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo “Tannoy” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Hanko Machine Works +84985131678” với nội dung “L 282, 686, 05, 06 x 10đ”; hồi 18:01:53 ngày 18/01/2024 tài khoản Zalo "HankoMachine Works +84985131678” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Tannoy” với nội dung “2”.
Thư mục A6 (ký hiệu A6), phát hiện thư mục tin nhắn Telegram có 05 hình ảnh liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, đề được in ra 05 trang giấy A4 và thư mục Zalo có các nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc được in ra 03 trang giấy A4.
Thư mục A7 (ký hiệu A7), phát hiện có các nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc được in ra 03 trang giấy A4.
Thư mục A2 (ký hiệu A2), thư mục A8 (ký hiệu A8) và các thư mục khác như Face book, Face book M3, văn bản Message của các điện thoại gửi giám định không có nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc.
Quá trình điều tra, Bùi Văn M, Nguyễn Văn H3, Hoàng Văn C, Trần Văn D2, Nguyễn Đức V, Đỗ Văn T5, Vũ Thị L, Đặng Văn K, Lê Trọng T7 và Nguyễn Tiến L1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với dữ liệu điện tử, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 40/CT-VKS-P2 ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo Bùi Văn Mùi, Nguyễn Văn Hòa và Hoàng Văn C về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vũ Thị L, Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1, Trần Văn D2, Đỗ Văn T5, Đặng Văn K và Lê Trọng T7 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 07/8/2024, Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị L, Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1, Đỗ Văn T5 phạm tội “Đánh bạc".
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Vũ Thị L 15 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc” tại Bản án số 12/2022/HS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thành 30 tháng tù giam; buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2021 đến ngày 26/01/2021 (tại Bản án số 121/2022/HS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) và từ ngày 20/01/2024 đến ngày 07/02/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 35, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 16/4/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 35, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến L1 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 28/01/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 35, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T5 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 28/01/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác; về hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vào các ngày 13/8/2024, 19/8/2024 và 20/8/2024 các bị cáo Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1 và Vũ Thị L đều có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo;
Ngày 20/8/2024, bị cáo Đỗ Văn T5 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Thị L thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Nguyễn Tiến L1 xin được phạt tiền; các bị cáo Nguyễn Đức V và Đỗ Văn T5 giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Các bị cáo Vũ Thị L, Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1 và Đỗ Văn T5 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, phạt tiền đối với bị cáo L1 và cho các bị cáo V, T5 được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, ý kiến của các Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn T5, Nguyễn Tiến L1 và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Vũ Thị L, Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1, Đỗ Văn T5 về tội “Đánh bạc” và tuyên mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Thị L thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình các tài liệu thể hiện bố đẻ bị cáo là người có công với Cách mạng, bị cáo đã nộp tiền phạt, tiền hưởng lợi bất chính và án phí sơ thẩm; bị cáo bị bệnh tiểu đường là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo L thuộc trường hợp tái phạm và mức án 15 tháng tù là phù hợp nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Thị L.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức V và Đỗ Văn T5: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo T5 và V xuất trình một số tình tiết mới thể hiện các bị cáo đã nộp tiền phạt, tiền hưởng lợi bất chính và án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo V và bị cáo T5 có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, phạm tội 02 lần nhưng các lần phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đủ điều kiện được hưởng án treo. Đối với bị cáo Nguyễn Tiến L1 tham gia đánh bạc 01 lần với số tiền không lớn và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo có mức hình phạt là phạt tiền. Bị cáo L1 cũng xác nhận có khả năng để chấp hành hình phạt tiền.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thị L, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức V, Đỗ Văn T5 và Nguyễn Tiến L1, phạt tiền bị cáo L1 từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng và cho bị cáo T5, bị cáo V được hưởng án treo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến L1 trình bày mức án 06 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo L1 là nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo L1 đã xuất trình tài liệu nộp tiền phạt, tiền hưởng lợi bất chính và án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có bố đẻ được tặng Bằng Khen. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến L1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên phạt tiền đối với bị cáo L1.
Các Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn T5 trình bày: Thống nhất về hành vi phạm tội của bị cáo T5, nhưng mức án 09 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo T5 là nặng. Bị cáo T5 có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, chưa có sai phạm gì và tích cực nộp tiền phạt, gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo T5, cho bị cáo T5 được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
-
Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
-
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1, Đỗ Văn T5 và Vũ Thị L đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Với mục đích thu lợi bất chính, Bùi Văn M sử dụng mạng xã hội Zalo, Telegram đăng ký trên điện thoại di động để tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô đề, cụ thể như sau: Ngày 18/01/2024, Bùi Văn M tổ chức đánh bạc trái phép với Hoàng Văn C số tiền 614.400.000 đồng, Nguyễn Văn H3 số tiền 53.601.000 đồng, Vũ Thị L số tiền 1.318.000 đồng. Tổng số tiền M tổ chức đánh bạc trái phép là 669.319.000 đồng. Ngày 17/01/2024, M tổ chức đánh bạc với Trần Văn H4 số tiền 21.154.000 đồng; H3 số tiền 7.902.400 đồng; V số tiền 7.416.000 đồng. Tổng số tiền M tổ chức đánh bạc trái phép là 36.742.400 đồng. Ngày 05/01/2024, nhận của H3 822.250 đồng tiền đề, đề ba càng; ngày 03/01/2024 nhận của H3 4.336.000 đồng tiền lô; ngày 02/01/2024 nhận của H3 6.504.000 đồng tiền lô.
Bị cáo Hoàng Văn C là thư ký lô đề, để hưởng lợi ngày 18/01/2024 nhận trái phép số lô từ tài khoản Telegram tên “Cuti3” nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của người chơi với số tiền 526.400.000 đồng. Sau đó, C chuyển cho Bùi Văn M 294.400.000 đồng tiền lô, chuyển cho Đặng Văn K 7.200.000 đồng tiền lô. C giữ lại 218.080.000 đồng tiền lô đề trả thưởng cho tài khoản Telegram tên “Cuti3”. Đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, tài khoản Telegram tên “Cuti3” trúng thưởng số tiền 560.000.000 đồng, số tiền C tổ chức đánh bạc trái phép với tài khoản “Cu ti3” là 1.086.400.000 đồng và thu lợi bất chính là 6.720.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn H3 là thư ký lô đề, để hưởng tiền hoa hồng ngày 18/01/2024 tổ chức đánh bạc trái phép cho Đỗ Văn T5, Nguyễn Đức V và một số người khác không xác định tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền là 56.576.000 đồng. Ngày 17/01/2024, H3 tổ chức đánh bạc trái phép cho Đỗ Văn T5 là 7.960.000 đồng. Trong các ngày 02, 03, 05/01/2024, H3 nhận trái phép tiền lô đề của Trần Văn D2 lần lượt tương ứng với các ngày số tiền 6.600.000 đồng, 4.400.000 đồng, 1.150.000 đồng và D2 đều không trúng thưởng. Tổng số tiền H3 thu lợi bất chính là 3.256.850 đồng.
Ngày 18/01/2024, bị cáo Đặng Văn K đánh bạc với Hoàng Văn C tổng số tiền sử dụng đánh bạc trái phép là 15.200.000 đồng.
Ngày 18/01/2024, bị cáo Vũ Thị L đánh bạc với M và Lê Trọng T7 số tiền sử dụng đánh bạc trái phép là 5.678.000 đồng. Ngày 17/01/2024, L đánh bạc với Lê Trọng T7 với tổng số tiền sử dụng đánh bạc trái phép là 12.360.000 đồng.
Bị cáo Lê Trọng T7: Ngày 18/01/2024, T7 đánh bạc với Vũ Thị L 4.360.000 đồng tiền lô. Ngày 17/01/2024, T7 đánh bạc với Vũ Thị L số tiền 12.360.000 đồng.
Bị cáo Trần Văn D2: Trong các ngày 02, 03, 05/01/2024, mua trái phép số lô đề của Nguyễn Văn H3 lần lượt tương ứng với các ngày là 6.600.000 đồng, 4.400.000 đồng, 1.150.000 đồng và D2 đều không trúng thưởng.
Bị cáo Đỗ Văn T5: Ngày 18/01/2024, T5 mua trái phép số lô của Nguyễn Văn H3 với số tiền 4.400.000 đồng, T5 trúng thưởng 1.600.000 đồng, số tiền T5 sử dụng đánh bạc 6.000.000 đồng. Ngày 17/01/2024, T5 mua trái phép số lô của H3 với số tiền 3.960.000 đồng, T5 trúng thưởng số tiền 4.000.000 đồng, số tiền T5 sử dụng đánh bạc trái phép là 7.960.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Đức V: Ngày 18/01/2024 V nhận trái phép số lô của Nguyễn Tiến L1 với số tiền 2.616.000 đồng, sau đó chuyển cho Nguyễn Văn H3, V trúng thưởng là 4.800.000 đồng, số tiền V sử dụng đánh bạc trái phép là 7.416.000 đồng. Ngày 17/01/2024, V nhận trái phép số lô của Bùi Văn M với số tiền 2.616.000 đồng, M trúng thưởng là 4.800.000 đồng, số tiền V sử dụng đánh bạc trái phép là 7.416.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Tiến L1: Ngày 18/01/2024, chuyển trái phép số lô cho Nguyễn Đức V với số tiền 2.616.000 đồng, L1 trúng thưởng số tiền 4.800.000 đồng, số tiền L1 sử dụng đánh bạc trái phép là 7.416.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Văn M, Nguyễn Văn H3 và Hoàng Văn C về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vũ Thị L, Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1, Trần Văn D2, Đỗ Văn T5, Đặng Văn K và Lê Trọng T7 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thị L và xin được hưởng án treo, phạt tiền của các bị cáo Nguyễn Đức V, Nguyễn Tiến L1, Đỗ Văn T5, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Bị cáo Vũ Thị L có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án, nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, thể hiện thái đội coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo L đánh bạc nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L xuất trình tài liệu thể hiện bố đẻ bị cáo là ông Vũ Đình Q1 được Chủ tịch UBND tỉnh T tặng thưởng Bằng khen do có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp và bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền truy thu và tiền phạt theo quyết định của bản án sơ thẩm với tổng số tiền là 20.238.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng cho bị cáo L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ này. Tuy nhiên, do bị cáo L phạm tội nhiều lần và phạm tội thuộc trường hợp tái phạm đều về tội “Đánh bạc” nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo. Mức án 15 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo Vũ Thị L là phù hợp nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thị L.
Đối với bị cáo Đỗ Văn T5 và bị cáo Nguyễn Đức V: Bị cáo T5 và bị cáo V đều 02 lần đánh bạc bằng hình thức đánh số lô qua tài khoản trên mạng xã hội Zalo với Nguyễn Văn H3, Bùi Văn M và Nguyễn Tiển L1, cụ thể: Bị cáo T5 đánh số lô với Nguyễn Văn H3 ngày 17/01/2024 với số tiền là 7.960.000 đồng (đã thanh toán tiền đánh bạc) và ngày 18/01/2024 với số tiền là 6.000.000 đồng (chưa thanh toán). Bị cáo V 02 lần đánh số lô qua với Bùi Văn M và Nguyễn Tiến L1 ngày 17/01/2024 và ngày 18/01/2024, mỗi lần đánh bạc với số tiền là 7.416.000 đồng (đều chưa thanh toán tiền). Quá trình điều tra, xét xử bị cáo T5 và bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đỗ Văn T5 mức án 09 tháng tù và bị cáo Nguyễn Đức V mức án 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T5 xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo T5 đã nộp tiền thu lời bất chính, tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm với tổng số tiền là 18.600.000 đồng, bị cáo V xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo V nộp tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm với tổng số tiền 10.200.000 đồng (tại giai đoạn sơ thẩm bị cáo V đã nộp 2.616.000 đồng tiền thu lời bất chính) thể hiện sự ăn năn hối cải của các bị cáo. Đây là tình tiết mới tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Xét thấy bị cáo T5 và bị cáo V đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đánh bạc với số tiền không lớn, các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T5 và bị cáo V là lao động chính trong gia đình và hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của UBND xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam. Các bị cáo T5, V đều có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 nên không cần thiết phải bắt bị cáo T5 và bị cáo V chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo T5 và bị cáo V được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo T5, V cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Do đó, có cơ sở chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn T5 và bị cáo Nguyễn Đức V; cho bị cáo T5 và bị cáo V được hưởng án treo.
Bị cáo Nguyễn Tiến L1 tham gia đánh bạc với Nguyễn Đức V 01 lần với số tiền không lớn (7.416.000 đồng). Quá trình điều tra, xét xử bị cáo L1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc dù bị cáo L1 có nhân thân xấu, nhưng phạm tội lần này là tội phạm ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L1 xuất trình biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã nộp tiền phạt, tiền hưởng lợi bất chính, án phí sơ thẩm với tổng số tiền là 12.816.000 đồng và các tài liệu thể hiện bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Bằng K1, Giấy khen trong thời gian tại ngũ; bị cáo L1 được tặng thưởng nhiều Giấy khen do tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện xã hội, bảo vệ an ninh Tổ quốc tại địa phương. Mẹ đẻ bị cáo L1 thuộc đối tượng khuyết tật vận động, trí tuệ đang hưởng mức độ khuyết tật đặc biệt nặng có xác nhận của UBND xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy hành vi đánh bạc của bị cáo L1 thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự có hình phạt chính là hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ và hình phạt tù. Do đó, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, hoàn cảnh gia đình mẹ bị cáo bị khuyết tật đặc biệt nặng cần người chăm sóc như đã phân tích, nhận định và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo L1 xác định bị cáo có đủ khả năng, điều kiện về kinh tế để thực hiện hình phạt tiền theo quyết định của Tòa án nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo để chuyển từ hình phạt chính là hình phạt tù sang hình phạt tiền tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già bị khuyết tật nặng và các con nhỏ (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024). Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo L1, chuyển hình phạt chính là hình phạt tù sang hình phạt tiền nên không phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo L1 và số tiền phạt bổ sung bị cáo L1 đã nộp được đối trừ vào hình phạt chính là phạt tiền.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L không được chấp nhận nên bị cáo Vũ Thị L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn T5, Nguyễn Đức V và Nguyễn Tiến L1 được chấp nhận nên các bị cáo Đỗ Văn T5, Nguyễn Đức V và Nguyễn Tiến L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn T5, Nguyễn Đức V và Nguyễn Tiến L1; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HSST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam về phần hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Văn T5, Nguyễn Đức V và Nguyễn Tiến L1; cụ thể như sau:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 35; Điều 38; Điều 47; Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Vũ Thị L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc” tại Bản án số 121/2022/HS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (thành 30 tháng tù giam); buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 45 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2021 đến ngày 26/01/2021 (tại Bản án số 121/2022/HS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) và từ ngày 20/01/2024 đến ngày 07/02/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 35, Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Đức V cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đức V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 35, Điều 47, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T5 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Đỗ Văn T5 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đỗ Văn T5 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến L1 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”. Đối trừ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền phạt bị cáo Nguyễn Tiến L1 đã nộp trong tổng số tiền 12.816.000 đồng (Mười hai triệu, tám trăm mười sáu nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0002167 ngày 19/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, bị cáo Nguyễn Tiến L1 còn phải nộp 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tiền phạt sung ngân sách Nhà nước.
-
-
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Thị L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Đức V, Đỗ Văn T5 và Nguyễn Tiến L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Đỗ Văn T5 đã nộp 18.600.000 đồng (Mười tám triệu, sáu trăm nghìn đồng) gồm: Tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền phạt và tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước tại Biên lai thu tiền số 0001649 ngày 20/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam (BL1299).
Xác nhận bị cáo Vũ Thị L đã nộp 20.238.000 đồng (Hai mươi triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn đồng) gồm: Tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền phạt và tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước tại Biên lai thu tiền số 0001650 ngày 20/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam (BL1309).
Xác nhận bị cáo Nguyễn Đức V đã nộp 2.616.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm mười sáu nghìn đồng) tiền truy thu tại Biên lai thu tiền số 0001635 ngày 06/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam (đã ghi nhận tại Bản án sơ thẩm) và đã nộp 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) gồm: Tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền phạt tại Biên lai thu tiền số 0002193 ngày 11/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Tiến L1 đã nộp 12.816.000 đồng (Mười hai triệu, tám trăm mười sáu nghìn đồng) gồm: Tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền phạt và tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước tại Biên lai thu tiền số 0002167 ngày 19/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
-
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |
Bản án số 963/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc, tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 963/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Với mục đích thu lợi bất chính, Bùi Văn Mùi sử dụng mạng xã hội Zalo, Telegram đăng ký trên điện thoại di động để tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô đề, cụ thể như sau: Ngày 18/01/2024, Bùi Văn Mùi tổ chức đánh bạc trái phép với Hoàng Văn Cường số tiền 614.400.000 đồng, Nguyễn Văn Hòa số tiền 53.601.000 đồng, Vũ Thị Lan số tiền 1.318.000 đồng. Tổng số tiền Mùi tổ chức đánh bạc trái phép là 669.319.000 đồng. Ngày 17/01/2024, Mùi tổ chức đánh bạc với Trần Văn Hoàn số tiền 21.154.000 đồng; Hòa số tiền 7.902.400 đồng; Việt số tiền 7.416.000 đồng. Tổng số tiền Mùi tổ chức đánh bạc trái phép là 36.742.400 đồng. Ngày 05/01/2024, nhận của Hòa 822.250 đồng tiền đề, đề ba càng; ngày 03/01/2024 nhận của Hòa 4.336.000 đồng tiền lô; ngày 02/01/2024 nhận của Hòa 6.504.000 đồng tiền lô.
