Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận

Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 396/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Mạnh N, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1998 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mạnh A và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2023; có mặt.

2. Phạm Văn C, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1997 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2023; có mặt.

3. Nguyễn Văn L, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1996 tại Hà Nội; nơi cư trú: Đ, Mộc Hoàn G, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/01/2024; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc A1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Đội 7, Mộc Hoàn G, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hồng T2, anh Nguyễn Đắc H, anh Nguyễn Hữu T3, anh Nguyễn Tuấn K; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 14/6/2023, Công ty X (Công ty thi công thang máy dự án Chung cư H) tổ chức cho công nhân liên hoan tại quán bia “Mậu dịch” ở số F T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Trong khi liên hoan cùng mọi người, Nguyễn Hồng T2 (tổ trưởng), sinh năm 1991, ĐKTT: Hợp Lợi, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An cãi nhau với Nguyễn Duy P (tổ trưởng tổ khác), sinh năm 1993, ĐKTT: Đội 7, Mộc Hoàn G, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. Thấy Hồng T2 và P cãi nhau, Nguyễn Văn L là công nhân tổ của P đã cầm đĩa sứ định đánh Hồng T2 nhưng được mọi người can ngăn nên không xảy ra đánh nhau.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Phạm Văn C điều khiển xe mô tô chở Hoàng Mạnh NHồng T2 về nhà trọ tại số I T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Tại nhà trọ, Hồng T2 gọi điện thoại hẹn gặp L ở ngã tư T - V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn. Sau khi nghe điện thoại của Hồng T2, L cầm 02 điếu cày bằng tre ở nhà trọ rồi nhờ Nguyễn Ngọc A1 (là công nhân cùng tổ, ở cùng nhà trọ với L) đi xe mô tô chở L đến ngã tư T - V. Nguyễn Đắc H, sinh năm 1995, ĐKTT: M, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội (là công nhân cùng tổ, ở cùng nhà trọ với L) thấy L cầm theo điếu cày đi để giải quyết mâu thuẫn, sợ sẽ xảy ra đánh nhau nên bảo Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1999, ĐKTT: M, xã V, huyện H, Hà Nội điều khiển xe mô tô chở đi theo LNgọc A1 với mục đích nếu hai bên đánh nhau sẽ can ngăn. Nhóm của L đi đến ngã tư V - T thì gặp Hồng T2 đang đứng một mình. L xuống xe hai tay cầm 02 điếu cày đi lại gần Hồng T2 còn Ngọc A1, Hữu T3H đứng cách LHồng T2 khoảng 20m.

Lúc này, tại nhà trọ ở số I T, CN nghe thấy Hồng T2 gọi điện thoại cãi nhau với L rồi đi ra ngã tư T - V nên CN đi theo. Khi đi đến đầu ngõ G T, CN thấy L cầm 02 điếu cày đứng cãi nhau với Hồng T2 nên CN quay lại nhà trọ để tìm đồ vật làm vũ khí nếu có xảy ra đánh nhau thì sử dụng. N lấy một con dao dài 32cm ở trong nhà trọ còn C lấy một tấm gỗ dài 20cm ở cửa nhà trọ rồi chạy ra đầu ngõ G T. Cùng lúc này, CN nhìn thấy L đang cầm điếu cày đuổi đánh Hồng T2 chạy về hướng ngõ G T, thấy Hồng T2 là tổ trưởng ở cùng nhà trọ với CN bị L đuổi đánh nên C cầm thanh gỗ, N cầm dao xông vào L còn Hồng T2 bỏ chạy và không tham gia đuổi đánh lại L. L vừa chạy lùi vừa cầm 02 điếu cày vụt lại NC. N cầm dao tay phải chém 03 đến 04 nhát theo hướng từ trên xuống, có 01 nhát trúng vào bàn tay trái của L làm rơi điếu cày xuống đường, N nhặt điếu cày L làm rơi tiếp tục đuổi đánh L. L ném điếu cày còn lại về phía N nhưng không trúng, rồi bỏ chạy thì bị N dùng dao chém 01 nhát sượt vào vai phải, còn C đáp tấm gỗ về phía L nhưng không trúng. Sau đó NC quay lại thấy Ngọc A1 đang cầm điếu cày nhặt được của L ném N lúc trước, vung điếu cày về phía NC không biết có trúng hay không rồi bỏ chạy lên vỉa hè trước cửa số nhà G T thì bị ngã. Thấy vậy, CN đuổi theo Ngọc A1, N dùng điếu cày vụt ngang vào người Ngọc A1 làm Ngọc A1 ngã ngửa ra đường, C giằng được điếu cày Ngọc A1 đang cầm rồi dùng điếu cày đánh 02 đến 03 phát vào người Ngọc A1 làm vỡ điếu cày. Tiếp đó N tay phải cầm điếu cày, tay trái cầm dao đánh, chém Ngọc A1 theo hướng từ trên xuống. Sau đó, người dân can ngăn thì Nhật vứt bỏ lại điếu cày đã bị vỡ rồi cầm con dao cùng với C đi về nhà trọ ở số I T. Ngọc A1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Viện y học biển H1. Đến 01 giờ ngày 15/6/2023, CN đến Công an phường V đầu thú, giao nộp 01 con dao dài 32cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu dài 20cm, bản rộng 06cm, cán bằng gỗ dài 12cm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L thu giữ vật chứng: 01 con dao dài 32cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu dài 20cm, bản rộng 06cm, cán bằng gỗ dài 12cm; 01 đôi dép đen quai trắng có chữ CHIRTIAN DIOR; 01 dép (chân phải) tối màu, dạng dép tổ ong; 01 đôi dép có chữ VIP; 01 đôi dép màu đen, quai dép sọc trắng; 03 mảnh tre vỡ.

Ngoài ra, Phạm Văn C còn khai: Sau khi đuổi đánh L, C quay lại nhặt dép thì thấy Ngọc A1 đang đứng giữa đường tay cầm 01 điếu cày, nghĩ Ngọc A1 cầm điếu cày để đánh mình nên C chạy về phía Ngọc A1 thì bị Ngọc A1 dùng điếu cày đánh 01 cái vào vùng đầu, C xô vào thì Ngọc A1 bỏ chạy. Lúc này, N chạy đến thì CN đuổi đánh Ngọc A1. C từ chối giám định thương tích, không yêu cầu bồi thường và không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã gây thương tích cho mình.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 398/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 19/6/2023 và Kết luận giám định tổn thương cơ thể bổ sung qua hồ sơ số 907/2023/KLTgTHS-TTPYHP ngày 11/12/2023 xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc A1 là: 29% (Hai mươi chín phần trăm), cụ thể: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương cung mày phải gây lên là 03%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương đuôi mắt phải gây lên là 03%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương mặt trước ngoài 1/3 dưới đùi trái gây lên là 02%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương gãy 1/3 dưới xương đùi phải gây lên là 21%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật mặt ngoài đùi trái gây lên là 03%.

Đối với thương tích của Nguyễn Văn L: Vết trầy xước ở vai trái dài khoảng 20cm; mặt trên 03 ngón tay giữa bàn tay trái có 03 vết thương rách da dài khoảng 1,5cm. L đã sơ cứu vết thương tại Viện y học biển Hải Phòng nhưng không điều trị và không có hồ sơ bệnh án. L từ chối giám định tổn thương cơ thể, không yêu cầu bồi thường và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã gây thương tích cho mình.

Đối với Nguyễn Hồng T2 khi ra gặp Nguyễn Văn L tại ngã tư T - V, T2 không mang theo hung khí, khi bị L đuổi đánh T2 bỏ chạy không đánh nhau với L. T2 không bàn bạc, không gọi NC ra tham gia để đánh nhau với L, Ngọc A1 nên chưa đủ căn cứ để xử lý T2 về tội Cố ý gây thương tích hoặc Gây rối trật tự công cộng.

Đối với Nguyễn Ngọc A1 có tham gia trong quá trình hai nhóm xảy ra xô xát nhưng căn cứ vào mức độ của hành vi, mức độ chịu thiệt hại về thương tích, nên chưa đủ căn cứ để xử lý Ngọc A1 về tội Gây rối trật tự công cộng.

Bản Cáo trạng số 65/CT-VKSLC ngày 18/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Hoàng Mạnh NPhạm Văn C về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn L về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, không áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự), Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh N từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Phạm Văn C từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, cùng về tội Cố ý gây thương tích và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo N, C theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 32cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu dài 20cm, bản rộng 06cm, cán bằng gỗ dài 12cm; 01 đôi dép đen quai trắng có chữ CHIRTIAN DIOR; 01 dép (chân phải) tối màu, dạng dép tổ ong; 01 đôi dép có chữ VIP; 01 đôi dép màu đen, quai dép sọc trắng; 03 mảnh tre vỡ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại, bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 14/6/2023, Hoàng Mạnh NPhạm Văn C đã thực hiện hành vi dùng dao và điếu cày gây thương tích cho Nguyễn Ngọc A1 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 29%. Các bị cáo N, C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là nguy hiểm, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi phạm tội của bị cáo N, C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Bị cáo N, C vì có mâu thuẫn, bức xúc với nhóm của L, Ngọc A1 trong lúc liên hoan ăn uống giữa hai nhóm công nhân của Công ty X thi công lắp đặt thang máy dự án Chung cư H từ trước đó nên đã gây thương tích cho Ngọc A1, vì vậy đề nghị không áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo N, C của Viện kiểm sát là có cơ sở. Đối với Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi dùng 02 điếu cày bằng tre đuổi đánh anh Nguyễn Hồng T2 và dùng 02 điếu cày đánh nhau với NC gây mất trật tự công cộng tại khu vực ngã tư T - V, quận L Hải Phòng. Bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây rối trật tự công cộng là nguy hiểm, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi phạm tội của bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, tạo dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; bị cáo N, C sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú khai báo hành vi phạm tội; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo N, C nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N, C đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên bị cáo N, C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 của Bộ luật Hình sự.
  6. [6] Về vai trò: Bị cáo N, C đồng phạm về tội Cố ý gây thương tích nhưng là đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể giữa các đồng phạm, không có người chủ mưu, cầm đầu. N dùng điếu cày vụt ngang người Ngọc A1 làm Ngọc A1 ngã ngửa ra đường, tay phải cầm điếu cày, tay trái cầm dao đánh, chém Ngọc A1 theo hướng từ trên xuống. C dùng điếu cày đánh 02 đến 03 phát vào người Ngọc A1 làm vỡ điếu cày. Hành vi của bị cáo N quyết liệt hơn bị cáo C, nên bị cáo N có vai trò cao hơn bị cáo C. Bị cáo L phạm tội độc lập về tội Gây rối trật tự công cộng.
  7. [7] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo N, C gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 29%. Hình phạt đối với các bị cáo phải trên mức khởi điểm của khung hình phạt. Tuy nhiên cũng xét các bị cáo nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo N, C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cũng cần áp dụng để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình. Do vậy có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, khoan hồng cho các bị cáo, cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để các bị cáo cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.
  8. [8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo N, C đã bồi thường cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo N, C phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  9. [9] Về xử lý vật chứng: 01 con dao dài 32cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu dài 20cm, bản rộng 06cm, cán bằng gỗ dài 12cm là công cụ dùng vào việc phạm tội, 01 đôi dép đen quai trắng có chữ CHIRTIAN DIOR, 01 dép (chân phải) tối màu dạng dép tổ ong, 01 đôi dép có chữ VIP, 01 đôi dép màu đen quai dép sọc trắng, 03 mảnh tre vỡ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ.
  10. [10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  11. [11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
  • Tuyên bố các bị cáo Hoàng Mạnh N, Phạm Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao các bị cáo Hoàng Mạnh N, Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Trong trường hợp các bị cáo Hoàng Mạnh N, Phạm Văn C, Nguyễn Văn L thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Hoàng Mạnh N, Phạm Văn C, Nguyễn Văn L.
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 32cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu dài 20cm, bản rộng 06cm, cán bằng gỗ dài 12cm; 01 đôi dép đen quai trắng có chữ CHIRTIAN DIOR; 01 dép (chân phải) tối màu, dạng dép tổ ong; 01 đôi dép có chữ VIP; 01 đôi dép màu đen, quai dép sọc trắng; 03 mảnh tre vỡ.
  • (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/3/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hoàng Mạnh N, Phạm Văn C, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo bản án:
  • Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy Khoa

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Mai

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hà Thị Nga

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N-C-L cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger