TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2023/HS-ST Ngày: 30 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Phông;
Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Vũ Văn D, sinh năm 1982; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đăng D1, sinh năm 1953 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1954; anh chị em ruột có 4 người, bị cáo là thứ ba; có vợ là Trần Thị Bích T1, sinh năm 1986 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/5/2012, bị Công an huyện H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt xong ngày 16/5/2012; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
2. Phạm Văn Đ, sinh năm 1994; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1971; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 12/01/2023 bị Công an huyện T, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Ngày 26/8/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 22/01/2018 chấp hành xong hình phạt tù; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
3. Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1985; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Q1, sinh năm 1948 và bà Vũ Thị N1, sinh năm 1948; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ ba; có vợ là Phan Thị Thu M, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
4. Trịnh Văn H, sinh năm 1989; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Ơ, sinh năm 1966 và bà Trịnh Thị N2, sinh năm 1966; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ hai; có vợ là Lường Thị T2, sinh năm 1993 và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/9/2014 bị Công an huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, đã nộp xong tiền phạt ngày 19/9/2014; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
5. Bùi Hữu N3, sinh năm 1975; nơi sinh: Xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: Tổ E, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu V, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1946; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ ba; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29/4/2021 chấp hành xong hình phạt; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Bích T1, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đỗ Đức T3, sinh năm 1984; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1975; có mặt.
- Anh Vũ Đình T5, sinh năm 2006; có mặt.
- Người chứng kiến:
- Anh Phạm Đức T6, sinh năm 1970; vắng mặt.
- Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1954; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Vũ Văn D nảy sinh ý định mua Heroine để bán kiếm lời. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 20/6/2023, D đi xe buýt đến khu vực cầu Đ, thành phố N, tỉnh Nam Định rồi đi bộ xuống gầm cầu gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người cao gầy nhìn giống người nghiện, D đến làm quen và mua 01 cây Heroine với giá là 33.000.000 đồng cùng 20 mảnh giấy màu trắng vàng, có kích thước khoảng (60x7)cm được gói bằng nilon màu trắng rồi cất giấu vào trong người. Sau đó, D đi xe buýt về nhà và tự chia ma túy được khoảng 180 gói nhỏ để bán với giá 200.000 đồng/01 gói. Từ 20/6/2023 đến ngày 27/6/2023, mỗi ngày D bán được khoảng 25 - 30 gói cho người nghiện theo hình thức bán qua ô thoáng kích thước khoảng (15x15)cm trên cánh cổng nhà D. Phương thức mua bán, khi người nghiện đến cổng gọi, D nhìn C không có ai theo dõi, đi theo và thấy an toàn thì ra cổng nhận tiền rồi đưa ma túy cho người mua qua ô thoáng trên cổng, cụ thể:
- Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 27/6/2023, Phạm Văn Đ mang số tiền 93.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 18P2 – 4550 từ nhà ở xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định đến nhà Nguyễn Thanh Q ở xóm A, xã N, huyện N để rủ Q đi mua ma túy cùng nhau sử dụng. Q nhất trí và góp với Đ số tiền là 100.000 đồng. Sau đó, Đ điều khiển xe chở Q đi được khoảng 50m nói với Q “Đưa cho em thêm 10.000 đồng nữa”, Q đồng ý. Khi đi đến khu vực thị trấn Y, huyện H thì Đ, Q dừng xe trước quầy bán thuốc tây (không nhớ tên cửa hàng), Đ một mình đi vào mua 02 chiếc xi lanh loại 3ml/cc với giá 3.000 đồng cất vào túi quần bên phải phía trước rồi tiếp tục đi đến khu vực gốc cây đề thuộc xã H cách nhà Vũ Văn D khoảng 30m, Đ bảo Q “Đến rồi”. Q xuống xe đứng trên đường bê tông sát bờ sông, còn Đ điều khiển xe đến cổng nhà D ở xóm T, xã H rồi dùng tay trái gõ vào cổng màu xanh, D ở trong cổng hỏi “Lấy bao nhiêu”, Đ lấy 200.000 đồng từ túi quần bên trái của mình đưa vào trong ô thoáng trên cổng và bảo “lấy một”, D cầm tiền và đưa cho Đ 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, quay lại đón Q rồi đi về. Khoảng 11 giờ cùng ngày khi Đ, Q đi đến khu vực đường dong thuộc xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định thì bị Tổ công tác Công an huyện H kiểm tra, bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, Đ bỏ chạy xuống sông tưới tiêu, tổ công tác đã phát hiện thu giữ dưới sông tại vị trí cạnh người Đức 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ và Q khai nhận đó là gói Heroine do góp tiền vừa mua tại nhà Vũ Văn D với giá 200.000 đồng, cất giấu nhằm mục đích sử dụng, khi bị bắt Đ thả ra mặt sông nhằm tẩu tán. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, niêm phong gói ma túy (ký hiệu M). Ngoài ra còn tạm giữ của Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18P2-4550 đã qua sử dụng và tạm giữ trong túi quần bên phải của Đ 02 chiếc xi lanh loại 3ml/cc chưa qua sử dụng. Sau đó, tổ công tác đưa Đ, Q cùng vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã H để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 1019/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong một gói giấy màu vàng, trong phong bì thư niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M là 0,129 gam.
- Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, Bùi Hữu N3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 18P5 - 8723 từ nhà ở xóm A, xã H, huyện H đến nhà Vũ Văn D để mua ma túy sử dụng. Khi đến trước cổng nhà D, thấy cổng khóa, N3 gọi “Dinh ơi”, thì có người trong nhà trả lời “ơi”. Sau đó, có một người ra mở ô thoáng cổng, Nam cúi xuống nhận ra là D thì đưa 200.000 đồng qua ô thoáng cho D, D cầm tiền và đưa cho N3 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. N3 cầm gói ma túy để vào trong túi quần dài bên trái phía trước rồi điều khiển xe đi về. Khi N3 đi đến đoạn đường dong thuộc xóm N, xã H, huyện H thì bị tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp Công an huyện H kiểm tra, bắt giữ. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ trong túi quần dài bên trái phía trước N3 đang mặc 01 gói ma túy, N3 khai nhận đó là gói H2 vừa mua tại nhà Vũ Văn D với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, niêm phong gói ma túy (ký hiệu M) và đưa N3 về trụ sở Ủy ban nhân dân xã H để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của N3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 18P5 - 8723 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ.
Tại bản kết luận giám định số 1017/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu vàng, trong phong bì thư niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M là 0,124 gam.
- Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/6/2023, Trịnh Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen, biển kiểm soát 18Y1 - 9433 từ nhà ở Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định đến nhà Vũ Văn D để mua ma túy sử dụng. Khi đến trước cổng nhà D, Hơn gõ cổng. D đứng ở bên trong cổng mở ô thoáng hỏi “Lấy mấy cái”, Hơn đưa 200.000 đồng qua ô thoáng cổng cho D và nói “Để cho em một cái”. D cầm tiền và đưa cho H 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Hơn cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đi đến đoạn đường dong thuộc xóm N, xã H, huyện H thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp Công an huyện H kiểm tra, bắt giữ, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Hơn 01 gói ma túy. Hơn khai nhận đó là gói Heroine do vừa mua tại nhà Vũ Văn D với giá 200.000 đồng nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, niêm phong gói ma túy (ký hiệu A). Ngoài ra còn tạm giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen, biển kiểm soát 18Y1 - 9433 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh đen đã cũ. Sau đó, tổ công tác đưa H về trụ sở Ủy ban nhân dân xã H để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 1018/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu vàng, trong phong bì thư niệm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu A là 0,125 gam.
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N đã bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ án, vật chứng và Bùi Hữu N3, Trịnh Văn H cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 28/6/2023 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn D tại xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Quá trình khám xét, D đã tự giác lấy ở trên mặt bờ tường rào khu vực cạnh cổng ra vào nhà D 01 hộp sắt hình vuông màu vàng trên có dòng chữ “Thăng Long" bên trong có 13 gói giấy màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng, giao nộp cho tổ công tác (niêm phong kí hiệu A1). D khai nhận đó là 13 gói Heroine của D, cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra còn tạm giữ tại sân nhà Dinh 01 xe ô tô nhãn hiệu Cerato, màu đen đã cũ, biển kiểm soát 89A-185.02 và tạm giữ trong hông cánh cửa ghế lái trên xe ô tô: 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Vũ Văn D; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô 038825 mang tên Nguyễn Văn Đ1; tạm giữ trên mặt ghế phụ phía trước xe ô tô số tiền 3.700.000 đồng (niêm phong kí hiệu A2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, màu xanh đen, chứa sim số 0367.279.486; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen trắng đã cũ, chứa sim số 0582.820.888; tạm giữ trên mặt cửa sổ tầng 1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ chứa sim số 0968.351.180; tạm giữ trên mặt bàn tầng 1: 10 mảnh giấy màu trắng vàng, có kích thước khoảng (60x7)cm; tạm giữ trên nền nhà tầng 1: 01 hộp kim loại hình tròn đã cũ có kích thước khoảng (22x10)cm trên bề mặt có dòng chữ D2, bên trong có số tiền 3.000.000 đồng (niêm phong kí hiệu A3); tạm giữ trên bậc cầu thang tầng 2: 01 cân điện tử màu ghi cũ (đã hỏng) trên mặt sau vỏ ghi 500g/0,1kg, QCPASS, kích thước khoảng (12x7)cm; tạm giữ trên tường nhà tầng 2: 01 đầu thu camera màu trắng đã cũ, trên vỏ có dòng chữ Alhua, kích thước khoảng (22x22)cm, được niêm phong kí hiệu A4; tạm giữ tại góc sân tầng 1: 01 mắt thu camera màu trắng đã cũ trên vỏ có dòng chữ VPTECH; tạm giữ trước cổng 02 mắt thu camera màu trắng đã cũ trên vỏ có dòng chữ Alhua. Ngay sau đó lực lượng Công an đã lập biên bản khám xét và đưa Vũ Văn D về trụ sở Công an huyện H để làm việc, bàn giao hồ sơ, vật chứng và Vũ Văn D cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 1025/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: "Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 13 gói giấy màu vàng được đựng trong một hộp sắt hình vuông màu vàng, trên có dòng chữ “Thăng Long", trong phong bì thư niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định đều là ma tủy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu A1 là 1,619 gam.
Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS-HH ngày 05/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Văn D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Văn Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thanh Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trịnh Văn H từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Bùi Hữu N3 từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroine trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1017, 1018, 1019/KL-KTHS ngày 29/6/2023 và số 1025/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N; 10 mảnh giấy màu trắng vàng, có kích thước khoảng (60x7)cm; 01 hộp kim loại hình tròn đã cũ có kích thước khoảng (22x10)cm; 01 cân điện tử màu ghi đã cũ trên mặt sau vỏ ghi 500g/0,1kg, QCPASS, kích thước khoảng (12x7)cm; 02 bơm kim tiêm loại 3ml/cc..
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của Vũ Văn D do bán ma túy mà có.
Trả lại số tiền 3.700.000 đồng cho chị Trần Thị Bích T1.
Trả cho bị cáo Phạm Văn Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 18P2-4550;
Trả cho bị cáo Bùi Hữu N3 01 xe mô tô biển kiểm soát 18P5-8723 và 01 điện thoại di nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen.
Trả cho bị cáo Trịnh Văn H 01 xe mô tô biển kiểm soát 18Y1-9433 và 01 điện thoại di nhãn hiệu Itel màu xanh đen.
Trả cho bị cáo Vũ Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen, bên trong có chứa sim số 0367.279.486; 01 đầu thu camera màu trắng đã cũ, trên vỏ có dòng chữ Alhua, kích thước khoảng (22x22)cm; 01 mắt thu camera màu trắng trên vỏ có dòng chữ VPTECH; 02 mắt thu camera màu trắng trên vỏ có dòng chữ Alhua; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Vũ Văn D.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều nhận tội, xin hứa sửa chữa lỗi lầm và đề nghị được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo Vũ Văn D, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố và đều nhận tội. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, các kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/6/2023 tại nhà ở của mình tại xóm T, xã H, huyện H; Vũ Văn D đã có hành vi bán trái phép ma túy nhiều lần, cụ thể: Vào sáng ngày 27/6/2023, Vũ Văn D đã bán 01 gói Heroin có khối lượng 0,129 gam cho Phạm Văn Đ lấy 200.000 đồng, số tiền ma túy trên là do Phạm Văn Đ và Nguyễn Thanh Q cùng góp tiền mua để sử dụng chung; khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, Vũ Văn D đã bán 01 gói Heroin có khối lượng 0,124 gam cho Bùi Hữu N3 lấy 200.000 đồng, N3 mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân và khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/6/2023, Vũ Văn D đã bán 01 gói Heroin có khối lượng 0,125 gam cho Trịnh Văn H lấy 200.000 đồng, H mua ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn D ngày 28/6/2023 còn thu giữ 13 gói Heroin có tổng khối lượng 1,619 gam, D khai mục đích cất giấu để bán kiếm lời. Tổng khối lượng H3 do Vũ Văn D đã bán trong ngày 27/6/2023 và cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời là 1,997 gam.
Hành vi nêu trên của Vũ Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
Điều 251. Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên”.
Điều 249. Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò đồng phạm: Trong vụ án này hầu hết các bị cáo phạm tội có tính độc lập với nhau. Riêng Phạm Văn Đ và Nguyễn Thanh Q phạm tội có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự, trong đó Đ và Q cùng góp tiền đi mua ma túy sử dụng chung nhưng Đ trực tiếp mua ma túy nên có vai trò cao hơn Q.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thanh Q chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt; các bị cáo Vũ Văn D, Phạm Văn Đ, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 đều đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị Tòa án kết án phạt tù và đã được xóa án tích, hết thời hạn bị coi là bị xử lý hành chính nhưng các bị cáo được xác định có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Văn D, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 đều đã khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối lỗi nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Bùi Hữu N3 có mẹ đẻ là người có công với nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[6] Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để răn đe và giáo dục các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo Vũ Văn D phạm tội có động cơ vụ lợi nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo như đề nghị cả Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 đều là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng do Cơ quan điều tra đã thu giữ trong quá trình điều tra hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu gồm:
- Đối với số Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 10 đoạn giấy màu trắng vàng, kích thước (60x7)cm; 01 hộp kim loại hình tròn đã cũ, kích thước (22x10)cm; 01 cân điện tử màu ghi đã cũ, kích thước (12x7)cm; 02 bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu DAYANG, biển kiểm soát 18P2-4550 là tài sản hợp pháp của Phạm Văn Đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSII, biển kiểm soát 18P5-8723 và 01 điện thoại di nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen là tài sản hợp pháp của Bùi Hữu N3; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 18Y1-9433 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh đen là tài sản hợp pháp của Trịnh Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong có thẻ sim số thuê bao 0367.279.486, 01 đầu thu camera màu trắng đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ Alhua, kích thước (22x22)cm; 01 mắt thu camera màu trắng đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ VPTECH; 02 mắt thu camera màu trắng đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ Alhua; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Vũ Văn D là tài sản hợp pháp của Vũ Văn D. Các tài sản trên không liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo nên cần trả cho các bị cáo sử dụng là phù hợp.
- Đối với số tiền 6.700.000 đồng đã thu giữ tại nhà Vũ Văn D trong đó có 3.000.0000 đồng do Vũ Văn D bán ma tuý mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, còn lại số tiền 3.700.000 đồng là tài sản của chị Trần Thị Bích T1 là vợ bị cáo D nên cần trả cho chị T1 quản lý, sử dụng.
- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Cerato, biển kiểm soát 89A-185.02 và 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô 038825 mang tên Nguyễn Văn Đ1 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm X, xã H, huyện H (là anh họ của Vũ Văn D); 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr màu đen trắng, bên trong có chứa sim số 0582.820.888 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ, bên trong có chứa sim số 0968.351.180 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Đình T5 (là con trai Vũ Văn D) không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo Vũ Văn D nên Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng là có căn cứ pháp luật nên không xem xét, điều chỉnh.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vũ Văn D vào sáng ngày 20/6/2023 tại khu vực gầm cầu Đ, thành phố N, tỉnh Nam Định nhưng do D không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh xử lý.
Đối với những người đã mua Heroin của Vũ Văn D từ ngày 20/6/2023 đến ngày 27/6/2023, do D không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không thu giữ được ma túy và không xác định được số tiền của người mua nên không có căn cứ để xác minh xử lý theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Vũ Văn D.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3. Thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Bùi Hữu N3 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q.
1.1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt Vũ Văn D 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 6 năm 2023.
Phạt tiền Vũ Văn D 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
1.3. Xử phạt Phạm Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2023.
1.4. Xử phạt Trịnh Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2023.
1.5. Xử phạt Bùi Hữu N3 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2023.
1.6. Xử phạt Nguyễn Thanh Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu cho tiêu huỷ toàn bộ số Heroine trong các phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1017, 1018, 1019/KL-KTHS cùng ngày 29/6/2023 và số 1025/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N và 10 đoạn giấy màu trắng vàng, kích thước (60x7)cm; 01 hộp kim loại hình tròn đã cũ, kích thước (22x10)cm; 01 cân điện tử màu ghi đã cũ, kích thước (12x7)cm; 02 bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) đã thu giữ của bị cáo Vũ Văn D theo Biên lai thu tiền số 0003026 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Trả cho chị Trần Thị Bích T1 số tiền 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003026 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Trả cho bị cáo Vũ Văn D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen đã qua sử dụng, bên trong có thẻ sim số thuê bao 0367.279.486; 01 đầu thu camera màu trắng đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ Alhua, kích thước (22x22)cm; 01 mắt thu camera màu trắng đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ VPTECH; 02 mắt thu camera màu trắng đã qua sử dụng, trên vỏ có dòng chữ Alhua; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Vũ Văn D.
- Trả cho bị cáo Phạm Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu DAYANG, biển kiểm soát 18P2-4550.
- Trả cho bị cáo Trịnh Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 18Y1-9433 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh đen.
- Trả cho bị cáo Bùi Hữu N3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSII, biển kiểm soát 18P5-8723 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như tại Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 20/10/2023 và Biên lai thu tiền số 0003026 ngày 13/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc Vũ Văn D, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thanh Q, Trịnh Văn H và Bùi Hữu N3; mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Trung Kiên |
Bản án số 96/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 96/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn D và đồng bọn - Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
