Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 5 - 2024

V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm

Ông Đỗ Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 606/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Thị T212, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Chị Lê Thị T212, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh C ..

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Lê Thị T212 trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị T212 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An vào năm 2018. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây là khoảng tháng 8/2023 thì vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã bất đồng quan điểm. Nguyên nhân là do chị T212 khi anh đi làm về thấy chị thảo mãi lo đan lục bình không để ý đến con nên trong lúc nóng giận anh đã xô chị T212. Sau đó, chị T212 giận và xin về nhà mẹ ruột nhưng anh không đồng ý nhưng chị T212 vẫn lén anh 02 con về nhà mẹ ruột cho đến nay. Hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa anh và chị T212 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T212.

- Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị T212 có 02 người con chung tên Võ Lê Thảo Duyên sinh ngày 09/4/2020 và Võ Lê Thảo Uyên sinh ngày 03/7/2018 đang sống cùng chị T212. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu chị T212 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản hòa giải ngày 29/11/2023 và tại phiên tòa bị đơn chị Lê Thị T212 trình bày:

- Về hôn nhân: Chị xác định chị và anh T212 kết hôn năm 2017 nhưng đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T212 mê cờ bạc, chị khuyên can nhưng anh T212 không nghe mà còn đánh chị. Ngoài ra, anh T212 còn sử dụng ma túy đá, sau khi sử dụng xong còn về đánh chị, do đó chị mới dẫn 02 con chung về gia đình cha mẹ ruột sống tại ấp Hợp Tác Xã, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước từ tháng 9/2023 đến nay. Nay xét thấy vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị đồng ý theo yêu cầu xin ly hôn của anh T212.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T212 có 02 người con chung tên Võ Lê Thảo Duyên sinh ngày 09/4/2020 và Võ Lê Thảo Uyên sinh ngày 03/7/2018 đang sống cùng chị T212. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh T212 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Lê Thị T212 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không trình bày bổ sung gì thêm.

Bị đơn là chị Lê Thị T212 giữ nguyên ý kiến trình bày, không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa anh Lê Thị T212 và chị Lê Thị T212 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Lê Thị T212 có địa chỉ cư trú tại ấp Hợp Tác Xã, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2

[2] Về hôn nhân: Anh Lê Thị T212 và chị Lê Thị T212 tự nguyện kết hôn vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh T212 và chị T212 đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo anh T212 trình bày, sau khi kết hôn thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây là khoảng tháng 8/2023 thì vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã bất đồng quan điểm. Nguyên nhân là do chị T212 khi anh đi làm về thấy chị thảo mãi lo đan lục bình không để ý đến con nên trong lúc nóng giận anh đã xô chị T212. Sau đó, chị T212 giận và xin về nhà mẹ ruột nhưng anh không đồng ý nhưng chị T212 vẫn lén anh 02 con về nhà mẹ ruột cho đến nay. Hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa anh và chị T212 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T212.

Đối với chị Lê Thị T212 xác định chị và anh T212 kết hôn năm 2017 nhưng đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T212 mê cờ bạc, chị khuyên can nhưng anh T212 không nghe mà còn đánh chị. Ngoài ra, anh T212 còn sử dụng ma túy đá, sau khi sử dụng xong còn về đánh chị, do đó chị mới dẫn 02 con chung về gia đình cha mẹ ruột sống tại ấp Hợp Tác Xã, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước từ tháng 9/2023 đến nay. Nay xét thấy vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị đồng ý theo yêu cầu xin ly hôn của anh T212. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T212, cho anh T212 được ly hôn với chị T212.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, anh T212 và chị T212 đều xác định có 02 người con chung tên Võ Lê Thảo Duyên sinh ngày 09/4/2020 và Võ Lê Thảo Uyên sinh ngày 03/7/2018 đang sống cùng chị T212. Sau khi ly hôn, cả anh T212 và chị T212 đều yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu người còn lại phải cấp dưỡng nuôi con.

Theo quy định của pháp luật thì: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên...”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con...”.

Xét thấy: Cả hai đương sự là anh T212 và chị T212 không thỏa thuận được về việc trực tiếp nuôi con chung. Xét về điều kiện thì anh T212 và chị T212 đều có điều kiện nuôi con như nhau. Tuy nhiên, xét thấy cháu Võ Lê Thảo Duyên sinh ngày 09/4/2020 và cháu Võ Lê Thảo Uyên sinh ngày 03/7/2018 đều là con gái, từ khi chị T212 ly thân anh T212 cho đến nay thì chị T212 là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho 02 cháu. Tại phiên tòa, anh T212 cho rằng chị T212 không có điều kiện và không chăm lo tốt cho các con nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Đối với chị T212, chị xác định từ khi ly thân anh T212 thì chị vẫn chăm sóc tốt cho 02 cháu, thu nhập của chị làm ổn định mỗi tháng từ 7.000.000₫ đến 8.000.000đ/tháng, đủ điều kiện chăm lo cho các con và các con cũng đang sống tốt cùng chị. Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm sinh lý và không gây xáo trộn cho cuộc sống hiện tại của hai cháu, cần giao 02 cháu cho chị T212 được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:

Về tài sản chung: Anh T212 và chị T212 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Anh T212 và chị T212 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Lê Thị T212 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Lê Thị T212, cho anh T212 được ly hôn với chị Lê Thị T212.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Lê Thảo Duyên sinh ngày 09/4/2020 và cháu Võ Lê Thảo Uyên sinh ngày 03/7/2018 đang sống cùng chị T212 được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, anh T212 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Lê Thị T212 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 06 tháng 11 năm 2023 anh T212 có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0012501 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4

6. Về quyền kháng cáo: Anh T212, chị T212 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã Tân Lập, Tân Thạnh, Long An;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tăng Thị Nhớ

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tấn Liêm

Tăng Thị Nhớ

Đỗ Thanh Tú

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger