Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày: 29-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
  2. Bà Mai Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXX-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 220/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Cẩm H, sinh năm 1978

Địa chỉ: Tổ 13, ấp Vĩnh Thuận, xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

2. Bị đơn: Ông Phan Phương B, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 17/4/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Mai Thị Cẩm H trình bày: Ngày 15/02/2023 âm lịch ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T có hỏi vay của bà Mai Thị Cẩm H số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), thỏa thuận thời gian vay vài tháng sẽ trả lại. Hai bên có làm biên nhận ngày 15/02/2023 âm lịch có ông B và bà T ký tên. Sau khi vay thì ông B và bà T trả được số tiền 450.000.000 đồng và đóng lãi được vài lần thì ngưng, vẫn còn nợ tiền vốn gốc là 550.000.000 đồng. Bà H khởi kiện yêu cầu ông B bà T trả số tiền nợ gốc còn lại là 550.000.000 đồng, tính lãi theo quy định pháp luật từ tháng 10/2023 đến ngày xét xử

* Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T nhưng ông B và bà T vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Mai Thị Cẩm H yêu cầu ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T trả số tiền vốn gốc còn nợ là 550.000.000 đồng và rút lại yêu cầu tính lãi đối với số tiền còn nợ.

- Bị đơn ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Cẩm H. Buộc bị đơn ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T trả cho bà Mai Thị Cẩm H số 550.000.000 đồng, đình chỉ yêu cầu tính lãi đối số tiền bị đơn còn nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa bà Mai Thị Cẩm H với ông Phan Phương B, bà Nguyễn Thị T được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T thường trú tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: bị đơn ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ là biên nhận ngày 15/02/2023 âm lịch (tức ngày 06/3/2024 dương lịch) có chữ ký xác nhận và dấu lăn tay của ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T đã xác định được ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T có vay của bà Mai Thị Cẩm H số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), không thỏa thuận thời gian vay và lãi suất. Sự thỏa thuận giữa bà Mai Thị Cẩm H và ông Phan Phương B, bà Nguyễn Thị T là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức, pháp luật nên được xem là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Phan Phương B, bà Nguyễn Thị T trả được số tiền 450.000.000 đồng, còn nợ lại 550.000.000 đồng thì không tiếp tục thanh toán nên đã vi phạm thỏa thuận. Bà Mai Thị Cẩm H yêu cầu ông Phan Phương B, bà Nguyễn Thị T trả số tiền nợ 550.000.000 đồng còn lại là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Cẩm H buộc ông Phan Phương B, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Mai Thị Cẩm H số tiền còn nợ là 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng).

2.2 Về nghĩa vụ trả lãi: tại đơn khởi kiện ngày 17/4/2024 nguyên đơn Mai Thị Cẩm H yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ tháng 10/2023 đối với tiền 550.000.000 đồng bị đơn còn nợ, tuy nhiên tại phiên tòa bà H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, đối với phần lãi đã nhận bà không tranh chấp và không yêu cầu tính lãi đối với số tiền bị đơn còn nợ. Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.

[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  • - Nguyên đơn được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và rút lại một phần yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Cẩm H.
  2. Buộc ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Mai Thị Cẩm H số tiền vốn gốc là 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Đình chỉ yêu cầu tính lãi của bà Mai Thị Cẩm H đối với số tiền 550.000.000 đồng.
  4. Về án phí sơ thẩm:
    • - Bà Mai Thị Cẩm H được nhận lại số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004748 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
    • - Ông Phan Phương B và bà Nguyễn Thị T phải chịu 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: bà Mai Thị Cẩm H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2024). Ông Phan Phương B, bà Nguyễn Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện
  • Châu Thành, tỉnh An Giang;
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án
  • Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger