Hệ thống pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phạm Văn Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Lê Thanh Tâm
  • + Ông Nguyễn Văn Nho

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

  1. Họ tên: Trương Văn T ; Sinh ngày 04/3/2000, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Minh H, sinh năm 1964 (còn sống) và bà Trần Thị N, sinh năm 1969 (còn sống); Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không có
  2. Tiền án: Tại Bản án số 16/HS-ST ngày 25/3/2020, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, buộc bị cáo Trương Văn T phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 5.810.000 đồng; ghi nhận bị cáo T đã bồi thường cho bà T1 số tiền 3.500.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường thêm số tiền 2.310.000 đồng; bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, đã đóng 500.000 đồng tiền án phí, chưa thực hiện việc bồi thường, chưa đủ thời hạn để được xóa án tích

Nhân thân:

Ngày 30/01/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh T,;Ngày 25/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án phạt tù tại Trại giam C2, Bộ C3. Ngày 07/02/2021 chấp hành xong

Tại Quyết định số 08 ngày 18/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tây Ninh (K), thời hạn 15 tháng.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  1. Họ tên: Nguyễn Văn Thái C; Sinh ngày 29/11/1997, tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở: Ấp E, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972, (còn sống) và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1975 (còn sống); Vợ, con: chưa có

- Tiền án: không

- Tiền sự: có 03 tiền sự

  • + Tại Quyết định số 46 ngày 18/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tây Ninh (K48), thời hạn 12 tháng đối với Nguyễn Văn Thái C, chấp hành xong ngày 15/02/2019, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Tại Quyết định số 44 ngày 13/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tây Ninh (K48), thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Văn Thái C. Đến 07 giờ ngày 11/4/2020, khi C được cán bộ dẫn đi làm cấp dưỡng thì bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện vào khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày.
  • + Tại Quyết định số 51 ngày 26/10/2022, Công an xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định xử phạt Nguyễn Văn Thái C 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành nộp phạt.

Nhân thân:

Ngày 24/10/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 24/5/2014.

Ngày 07/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2016, chấp hành án tại Trại giam C2, chấp hành xong ngày 04/11/2017.

Ngày 18/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tây Ninh (K48), thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/02/2019.

Ngày 13/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tây Ninh (K48), thời hạn 24 tháng, đến ngày 11/4/2020 thì bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện

Ngày 26/10/2022, bị Công an xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định xử phạt Nguyễn Văn Thái C 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  1. Họ tên: Nguyễn Văn L; Sinh năm 2001, tại Campuchia; nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm mướn; Trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Không xác định; con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1968 (còn sống) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1968 (còn sống); Vợ, con: chưa có

- Tiền án: không có

- Tiền sự: 02

  • Tại Quyết định số 44 ngày 30/5/2022, Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định xử phạt Nguyễn Văn L 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành nộp phạt.
  • Tại Quyết định số 71 ngày 19/9/2022, Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định xử phạt Nguyễn Văn L 1.750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành nộp phạt.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  1. Họ tên: Nguyễn Đức T3; Sinh ngày 23/02/2003, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: không xác định; con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1983, còn sống; Vợ, con: chưa có

- Tiền án: không

- Tiền sự: 01

  • Tại Quyết định số 35 ngày 16/9/2022, công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Đức T3 bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt 16/9/2022, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính

Nhân thân:

Ngày 09/01/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện, thời hạn 15 tháng.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/3/2023 khi đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Đức T3: Ông Đặng Minh Đ, Luật sư thuộc Công ty L2, đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Thái C: Ông Phạm Hồng P, Luật sư thuộc Công ty L3, đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh.

- Người bào chữa cho bị cáo Trương Văn T: Bà Quách Thị Phương T4, Luật sư thuộc Công ty L3, đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 27/11/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có nhóm thanh niên tụ tập tại nhà nghỉ M thuộc Lô A, khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh có biểu hiện gây mất an ninh trật tự nên Công an thị trấn T tiến hành kiểm tra phát hiện tại phòng số 09 có 02 khách là Nguyễn Văn Thái C và Nguyễn Thị Thanh T5 sinh ngày 11/12/2009; phòng số 04 có 04 khách là Trương Văn T, Nguyễn Văn L và Nguyễn Hoàng H3 sinh năm 2003, Nguyễn Võ Hải L1 sinh năm 2001. Do 06 đối tượng này có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an mời về trụ sở làm việc

Qua điều tra đã làm rõ:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 25/11/2022, Nguyễn Văn L đang uống nước cùng với Nguyễn Đức T3 và Nguyễn Thanh H4, sinh năm 2007, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì gặp Nguyễn Văn Thái C. C rủ L đến chơi tại quán nhậu cặp bờ kênh lô 23 thuộc khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, L đồng ý. Do không có xe nên L rủ T3 điều khiển xe mô tô đi cùng L đến quán N2, T3 đồng ý. Khi tới quán nhậu, L xuống xe vào trong quán, còn T3 tiếp tục quay lại công viên đón H4 lại quán nhậu. Đến nơi, T3 và H4 không nhậu mà ngồi bàn bên cạnh chơi game trên điện thoại di động. 05 người gồm Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Thái C, Trương Văn T, Nguyễn Võ Hải L1, Nguyễn Thị Thanh T5 sinh ngày 11/12/2009 ngồi ăn nhậu chung bàn. Trong lúc ăn nhậu, T hỏi những người ngồi chung bàn nhậu có ai biết chỗ bán ma túy không để mua cùng nhau sử dụng chung. Đồng thời, T lấy trong người ra 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) và hỏi C có còn tiền không để hùn mua ma túy sử dụng thì C đồng ý lấy 80.000 đồng trong người ra hùn. Lúc này, L nói biết chỗ mua ma túy nên C đưa 280.000 đồng cho L. Sau khi nhận tiền, L nói với T3 đi mua 01 bịch ma túy giá 300.000 đồng, T3 đồng ý nên L đưa cho T3 280.000 đồng. T3 mượn điện thoại di động của H4 nhưng không nói cho H4 biết mục đích mượn điện thoại. Sau khi mượn điện thoại của H4, T3 nhập mật khẩu Facebook của T3 để liên lạc với người tên N1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua một bịch ma túy đá với số tiền 300.000 đồng nhưng chỉ có 280.000 đồng. Do là bạn bè quen biết nên N1 đồng ý bán ma túy và hẹn T3 giao tại lô 8 thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Thấy T3 điều khiển xe mô tô đi thì H4 xin đi theo chơi nhưng không biết là đi mua ma túy. Đến nơi, T3 đưa 280.000 đồng cho N1 và nhận được một đoạn ống hút bên trong chứa ma túy. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô chở H4 quay lại quán nhậu và để đoạn ống hút bên trong chứa ma túy lên trên bàn nhựa nơi C, T, L, L1 đang ngồi. Lúc này, Nguyễn Thị Thanh T5 không nhậu nữa mà đến nằm võng gần bàn nhậu. Khi có ma túy, C đi tìm một chai nhựa và ống hút nhựa để tự chế bộ dụng cụ sử dụng ma túy, L rủ T3 ở lại cùng sử dụng ma túy nhưng T3 không sử dụng mà chở H4 đi về nhà. Sau đó, T lấy đoạn ống có chứa ma túy đưa cho C và tiếp tục cùng với L1 ngồi ăn nhậu, còn C cầm đoạn ống hút chứa ma túy cùng với L đi ra phía sau quán nhậu rồi đi dọc theo bờ kênh cách chỗ nhậu khoảng 20 mét. Tại đây, L đưa một cái “nỏ” bằng thủy tinh cho C gắn vào chai nhựa để sử dụng ma túy và lấy ma túy từ trong đoạn ống hút cho vào trong “nỏ”. Lúc này, Trương Văn T, Nguyễn Võ Hải L1 và Nguyễn Thị Thanh T5 cùng đến sử dụng ma túy, khoảng 20 phút sau thì cả nhóm đã sử dụng hết ma túy rồi cùng nhau đi thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ L4 thuộc khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để ngủ. Sáng ngày 26/11/2022, cả nhóm đi chơi và ăn uống trên địa bàn thị trấn T, đến tối cùng ngày thì C, T, L, L1, T5 thuê phòng tại nhà nghỉ M thuộc khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để ngủ.

Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 27/11/2022, Công an thị trấn T kiểm tra, mời 06 đối tượng về trụ sở và xét nghiệm nhanh chất ma túy, phát hiện Nguyễn Văn Thái C, Trương Văn T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Võ Hải L1, Nguyễn Thị Thanh T5 đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Qua làm việc, L, C, T, T3 và các đối tượng L1, T5 đã thừa nhận toàn bộ nội dung vụ việc như trên. Đối với Nguyễn Thị Thanh T5, tính đến ngày 25/11/2022, T5 mới được 12 năm 11 tháng 14 ngày tuổi.

Quá trình điều tra, Trương Văn T, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3 thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Trương Văn T đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm.

* Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật: không có

* Kê biên tài sản: Trương Văn T, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3 không có tài sản riêng nên không kê biên.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-P3, ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 3 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo T từ 16 đến 17 năm tù; xử phạt bị cáo C, bị cáo L, bị cáo T3 từ 15 đến 16 năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Không có, không đặt ra giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo L, bị cáo T3 phát biểu: Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh và tình tiết giảm nhẹ. Đối với bị cáo L là người mù chữ, không nhận thức được pháp luật do lạc hậu, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo L tại điểm s, t, m khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt; đối với bị cáo T3 thì Viện kiểm sát áp dụng dụng tình tiết định khung tại điểm d khoản 3 Điều 255 là không phù hợp, bởi vì bị cáo T3 chỉ đi mua giùm cho bị cáo L, không biết việc bị cáo T rũ rê sử dụng chất ma tuý, cũng không biết có T5 cùng sử dụng ma tuý. Sau khi mua ma tuý về thì bị cáo T3 không sử dụng mà cùng với H4 đi về. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 255 với tình tiết 02 người trở lên. Ngoài ra bị cáo T3 đã tích cực hợp với với cơ quan điều tra be6b cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 xử phạt bị cáo T3 dưới khung hình phạt tại khoản 2 Điều 255.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu lời bào chữa cho bị cáo C: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát, tuy nhiên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51. Mặt khác trong vụ án các bị cáo không biết T5 là người dưới 13 tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt tạo điều kiện cho các bị cáo sớm trở về hoàn nhập cộng đồng.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu lời bào chữa cho bị cáo T: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh. Tuy nhiên đồng tình với Luật sư đồng nghiệp. Các bị cáo hoàn toàn không biết T5 là người dưới 13 tuổi, khi bị bắt thì tự nguyện khai ra nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ là tự thú để xem xét cho các bị cáo mức án thấp để tạo điều kiện cho các bị cáo sớm trở về hoàn nhập cộng đồng.

Kiểm sát viên đối đáp:

* Đối với bị cáo L:

“Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”, quy định tại điểm t Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Công văn 212/TANDTC-PC năm 2019 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắc trong xét xử do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, tại mục 3 phần I: “Tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” được hiểu là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới”. Vụ án không có đồng phạm mới, tội phạm mới nên không áp dụng với L

- Về áp dụng điểm 1 Khoản 1 Điều 51 BLHS: Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

“Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra” được quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (BLHS) là trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội không đủ tỉnh táo để nhận biết đầy đủ mức độ nguy hiểm cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Hạn chế khả năng nhận thức của người phạm tội là do yếu tố khách quan tác động, không phải do bản thân người phạm tội gây ra. Các bị cáo không bị hạn chế khả năng nhận thức, vẫn tỉnh táo, minh mẫn trước, trong và sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử

Các bị cáo vẫn nhận thức được việc sử dụng ma túy là nguy hiểm, là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình sử dụng, tổ chức sử dụng ma túy, không áp dụng tình tiết này đối với các bị cáo

- Về áp dụng điểm m Khoản 1 Điều 51 BLHS “Phạm tội do lạc hậu”: Đây là tình tiết chưa có hướng dẫn chi tiết. Theo từ điển tiếng Việt “Lạc hậu” có nghĩa là: Bị ở lại phía sau, không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung. Như vậy, “phạm tội do lạc hậu” có thể hiểu là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội có nhận thức kém về tính trái pháp luật của hành vi họ thực hiện, hoặc hành động theo phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thói quen cổ hủ, lạc hậu mà không biết là mình phạm tội (mặc dù pháp luật quy định buộc phải biết). Đối với những trường hợp này, họ có hành vi trái với pháp luật nhưng lại cho rằng phù hợp với lợi ích xã hội. Vụ án này các bị cáo hoàn toàn nhận thức được tính trái pháp luật do hành vi của họ thực hiện tức là biết việc sử dụng ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn sử dụng và tổ chức sử dụng ma túy. Do đó không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo

* Đối với bị cáo T3:

Khi L đưa tiền cho T3 kêu T3 đi mua ma túy thì có nói: “Đi lấy cho anh cái ba về anh em mình chơi”. Lúc L nói những vấn đề trên thì L đang ngồi chơi, nhậu chung với mọi người trong đó có T5 và khi tuấn lấy ma túy về thì L có rủ T3 ở lại “chơi miếng” (sử dụng ma túy) rồi hãy về. Tại BL 194 T3 khai: trước đó L không có tiền trả tiền nước nhưng khi nhậu thì lại có 280k đưa T3 đi mua ma túy nên T3 biết rõ tiền này không phải của L mà của người khác đưa L đi mua ma túy về sử dụng chung và tại BL 195, 263, T3 khai: thấy C đưa tiền cho L nói lấy đồ về chơi.

T3 hoàn toàn biết rõ mục đích của L lấy ma túy về để mọi người cùng sử dụng nhưng vẫn tiếp nhận ý chí của L, đi lấy ma túy về giúp L nên đồng phạm với L. Do đó, khi L cho T5 sử dụng ma túy thì T3 cũng đồng phạm, chịu trách nhiệm chung, nên không áp dụng khoản 2 Điều 255 BLHS đối với T3 với tình tiết (phạm tội đối với 02 người trở lên) mà áp dụng điểm d khoản 3 Điều 255 BLHS đối với T3 như vks truy tố

- Tình tiết khác cần áp dụng: Tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS như tranh luận đối với đối với bị cáo L; khoản 2 Điều 51 BLHS thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

* Đối với bị cáo C và T:

- “Người phạm tội tự thú”, quy định tại điểm r Khoản 1 Điều 51 BLHS: Tự thú là nói ra tội lỗi của mình; chỉ coi là tự thú khi tội phạm họ thực hiện chưa bị phát hiện nhưng tự đến cơ quan có thẩm quyền (Công an, Kiểm sát...) khai báo hành vi phạm tội của mình hoặc trong quá trình điều tra tự khai ra những lần phạm tội khác trước đó: Trường hợp các bị cáo bị kiểm tra và test ma túy dương tính nên không áp dụng tình tiết này. Việc T5 dưới 13 tuổi không buộc các bị cáo phải biết thì mới xử lý

Về áp dụng Điều 54 BLHS: Các bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có nhân thân xấu: Bị cáo L có 02 tiền sự; bị cáo T3 có 01 tiền sự. Các bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS (thành khẩn khai báo), riêng bị cáo T còn có 01 tiền án là tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Căn cứ tính chất do hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nên không đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 BLHS

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ, để bị cáo có cơ hội chuộc lại lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội .Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, nhận thức rõ ma túy là chất độc có hại cho sức khoẻ của con người, khi sử dụng sẽ bị lệ thuộc và nó tàn phá cơ thể con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội, nhưng để thoả mãn nhu cầu bản thân đã rủ rê nhau thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trong đó có cả trẻ em dưới 13 tuổi. Nên cần xử lý nghiêm các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có tài sản.

[6] Về xử lý vật chứng: Trong vụ án không có thu giữ được vật chứng, cũng như tài sản của các bị cáo, nên không đặt ra giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa của các bị cáo.

[7] Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; do bị kết án, nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
    1. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Trương Văn T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/02/2023.

    2. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thái C 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/11/2022.

    3. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/11/2022.

    4. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T3 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/3/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Không có, không đặt ra giải quyết.
  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 GĐKT. TANDTC;
  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VP. CQCSĐT CA tỉnh;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Trại tạm giam;
  • - Phòng lý lịch STPTTN;
  • - Phòng KTNV. TANDTTN;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án HSST.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/TLST-HS ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 40/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Toàn, Nguyễn Văn Thái Châu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tuấn đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trương Văn Toàn, Nguyễn Văn Thái Châu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tuấn về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger